Viewing the case of South Korea, how will VN rethink its miserable position?

 

                                                            Prof. Hach Cao Nguyen

More than three dacades ago, the writer (former Dean of the Faculty of Law, University of Saigon) had a chance to visit South Korea. At the time, South Korea’s major development plan just began to be implemented. The then Korean economy lacked everything: Materials and energies, all had to be imported. And more: they had problems with mobilizing capital for investing in equipment and plants.
 
 

Initial impediments were massive, but only after some three decades of great efforts, South Korea’s development has been so successful. Annually, the U.N. publishs lots of statistical documents, of which, economic statistics are important. U.N. members are placed in a list according to their per capita income. This is an average figure to imply that income distribution is in equality. In reality, no country has such a kind of equality in income distribution.

Top of the list are many Western countries. Bottom are the tropical African states. Vietnam is close to the bottom, which is among the poorest nations in the world.

Many overseas Vietnamese made trips to Vietnam and insisted that in the big cities, luxurious cars lined up on streets. Why could we say that Vietnam is poor? That remark is interesting; but we need to remember that we are talking about average income: As Vietnam’s per capita income is very low, inequality distribution makes it more disastrous for the poorest components who contain the majority of the population.

Let’s return to South Korea: In the per capita income list of countries, South Korea today surpassed many European countries. That is a point we need to pay attention to.

The case of South Korea proves that a nation needs only three or four decades of development to reach to a state called self-sustained growth and prosperity. That span of time is insignificant toward the long history of a nation.

Statistics used to refer a period of 30 years to each generation.

Should a Vietnamese generation know how to make great efforts and sacrifices, to successfully adopt an optimal development strategy in the course of fierce competition globally; to restraint self-interests among the leaders and cadres; to satisfy the people’s aspirations; and especially to place the nation interests above the rulers’ interests… If such shoulds had been materialized, then the people of Vietnam surely wouldn’t be disgraceful as we are today, when we compared ourselves with the people of South Korea.

During the time between 1953 and 2002, North Korea and South Korea never went to war. Both the two are still competing with each other, but not in arms race for war. North Korea apllied Marxist Leninist doctrine with a view that it is a key to bring the nation to glory. South Korea denied Marxist Leninism, but didn’t find ways to rig the North off. On the contrary, South Korea followed the model of democratic and free market development. The first thing is the people’s demands for food and clothing have to be met before a period of productivity and progress could start.

Where is capital for investment?

We have two major international sources: The World Bank and IMF. If more capital is needed, one may rely on the Asian Development Bank.The initial condition for getting a loan from those institutions is the government has to put forward a solid plan to prove the needs and the capability of the government to implement the project in a reliable and effective manner. The conditions are not quite difficult but for a corruptive and ineffective government, they become a barrier to be qualified. For those governments which always lie to the people as well as to foreigners, for the situation that international loans were not allocated adequately to the project(s), instead, fell into the pockets of the corrupt leaders. Don’t think that the international finance institutions are composed of all naive officials who believe in the corrupt leaders easily; as these leaders might have thought that they were successfully cheating their own people — the Vietnamese. If the leaders of Vietnam were all in that category, don’t discuss such things as nation development.

Returning to the case of South Korea: The South Koreans today may be up to 10 times more prosperous than their last generation’s living standard.

Why have they rapidly developed?

The first condition is the leaders must not consider their people in the other side as enemies and run into war for killing one another. The hatred and killing one another destroy all development plans and direct cadres’ attention to killing compatriots.

The second condition is the leaders need to have good visions, which means they have to place the nation’s development path in line with the advancing path of humankind, to avoid certain individuals’ schemes and ambitions to obstruct the progressive wheel of history.

The third condition is the goodwill and devotion of the authorities in their positions, in addition to their capability, to ensure the foreign investors’ confidence to funnel their funds to invest in various important projects. That is the necessary condition to move the economy into what is called “taking-off into self-sustained growth”.

The South Korean economy has been very prosperous for years. In the meantime, North Korea has continually fallen into starvation. The President of the Republic of Korea (South Korea) put forward a move to reunify the North and the South to share the prosperity of the South with their compatriots in the North. They are advancing in that direction.

How will Vietnam think of its case?


Video 1:

http://www.youtube.com/watch?v=KrbtDo5RSPI




Video 2: Giới thiệu sách ở Toronto:

Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=YVKS6wIZvZM

Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dZstIwITbxM

VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM – VĂN HỌC HIỆN ÐẠI (TỪ 1945 ÐẾN NAY)

4 tập, 2,200 trang của Nguyễn Thiên Thụ,

nguyên giảng sư Ðại Học Văn Khoa, Saigon, giáo sư thỉnh giảng tại Viện Ðại Học Cần Thơ, Vạn Hạnh, Cao Ðài và Hòa Hảo.

Tác giả đã mười năm nghiên cứu lịch sử văn học hai miền Nam Bắc ( trước 1975) và quốc nội, quốc ngoại ( hiện nay), đề cập khoảng 300 thi sĩ, văn sĩ, nhà báo và nhà nghiên cứu như Nhất Linh, Hồ Biểu Chánh, Ðông Hồ, Quách Tấn, Ưng Bình Thúc GIạ THị, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan VIên, HỒ Dzếnh, NGuyễn Tuân, Nghiêm Toản, Nguyễn Ðăng Thục, Thanh Lãng, Phan Khôi, Trần Dần, Văn Cao, Phùng Quán, Phùng Cung, Tố Hữu, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Thanh Nam, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Trần Hồng Châu, Bùi Giáng, Nguyễn Tất Nhiên, Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nhã CA, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Văn Trấn, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Ðặng Phùng Quân, Võ Kỳ Ðiền, Hồ Trường An, Nguyễn NGọc Ngạn, Hàn Song Tường, Võ Phước Hiếu, Trà Lũ, Trang Châu,…

Văn học Việt Nam hiện đại có nhiều điểu thích thú.Văn học hiện đại có hai đặc tính: tính lãng mạn và tính chiến đấu.

1. Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyên Sa, Phạm Thiên Thư, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên nổi danh vì những bài thơ tình.

2. Phan Khôi, Trần Dần, Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung, Phùng Quán, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng là những chiến sĩ tự do.

Có bốn đề tài quan trọng trong văn học hiện đại:

1.Chiến tranh Viet nam:

Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Lê Xuyên, Phan Lạc Tiếp đã chuyên viết về đề tài này..

2. Nhà tù Việt Nam:

Sau 1975, các sĩ quan Cộng Hòa và dân chúng đã bị tù . Phan Lạc Phúc, Hà Thúc Sinh, Nhã Ca, Nguyễn Ngọc Ngạn, Vũ Thư HIên, Nguyễn Chí Thiện đã viết những sự thực về nhà tù cộng sản.

3.Thực tế Việt Nam:

Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, Phùng Quán, Phùng Cung, Dương Thu Hương Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Văn Trấn, Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phước Hiếu, Vĩnh Hảo đã nói lên những sự thực đắng cay ởViệt Nam từ 1945 đến nay.

4 .Thuyền nhân:

Võ Kÿ Ðiên, Ðặng Phùng Quân , Hàn Song Tường đã thuật lại những hiểm nguy trên đường tìm tự do.

Giá toàn bộ 4 tập gồm cước phí:
Canada: 138 CAD
Mỹ: 123 USD
Quốc tế: 145 USD
Thư từ, chi phiếu xin gởi cho người nhận là TUYET HONG NGUYEN
45 Inverkip Ave
Ottawa, ON, K1T 4B8, CANADA
Email: sontrung@yahoo.com


Các hình bìa sách:


 

 

CÁC ĐOẠN TRÍCH TRONG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI TẬP 1

Mục Lục

Sample1

Sample2

Sample3

NEW BOOK IN VIETNAMESE:
HISTORY OF VIETNAMESE LITERATURE (FROM 1945 TO PRESENT)

4 vol, 2200pp. by Thu Thien Nguyen

Former Professor at the UNIVERSITY OF SAIGON, VIETNAM.

Professor Nguyen researched in ten years Vietnamese contemporary literature including the authors and their works in the North and the South of Vietnam before 1975, and in Vietnam today, especially the literature of Vietnamese boatpeople around the world after 1975.

These books refer to three hundred authors such as Nhat Linh, Ho Bieu Chanh, Xuan Dieu, Che Lan Vien, Ho Dzenh, Phan Khoi, Tran Dan, Quang Dung, Huu Loan, Hoang Cam, Le Dat, Nguyen Dang Thuc, Tran Hong Chau, Thanh Lang, Doan Quoc Sy, Nguyen Sa, Thanh Tam Tuyen, Nha Ca, To Thuy Yen, Xuan Vu, Phan Nhat Nam, Nguyen Huy Thiep, Vo Ky Dien, Vo Phuoc Hieu, Phan Ni Tan, Vu Thi Da Thao, Tra Lu, Duong Thu Huong, Nguyen Van Tran, Vu Thu Hien, Nguyen Chi Thien, Nguyen Ngoc Ngan.

Vietnamese comtemporary literature is very interesting. It has two chacterisics: romanticism and criticism.

1. Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyên Sa, Phạm Thiên Thư, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên are famous for their love poems.

2. Phan Khôi, Trần Dần, Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung, Phùng Quán, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng are the fighters for freedom in Vietnam.

There are four component themes in Vietnamese comtemporary literature:

1. Vietnam  war : Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Lê Xuyên, Phan Lạc Tiếp focus on the Vietnam war.

2. Prisons in Vietnam: After 1975, Vietnamese officers and people of Republic of Vietnam  are treated barbarously in Vietnam. Phan Lạc Phúc, Hà Thúc Sinh, Nhã Ca , Nguyễn Ngọc Ngạn, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Chí Thiện describe the inhuman and horrible lives of people in the jails of Vietnam.

3. Reality in Vietnam: Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, Phùng Quán, Phùng Cung, Dương Thu Hương Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Văn Trấn, Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phước Hiếu, Hiếu Ðệ Vĩnh Hảo revealed the bitter and miserable lives in Vietnam from 1945 to the present day.

4. Boat people: Võ Kÿ Ðiên, Ðặng Phùng Quân , Hàn Song Tường told us about the dangers they had experiened on the risky way to freedom.

Price: 4 volumes including postal fees

Canada $138 CAD
USA $123 USD.
Intenational $145 USD

Please send check or money order to recipient: Mrs. TUYET HONG NGUYEN

45 Inverkip Ave
Ottawa, ON, K1T 4B8, CANADA

E mail: sontrung@yahoo.com 

Thuyết ‘ba đại diện’ của Giang Trạch Dân

Sơn Trung

Trong đại hội 16 của cộng đảng Trung Quốc, tháng 11 năm 2002, Giang Trạch Dân đã đưa ra thuyết ‘Ba đại diện’, và đặt nó ngang hàng với tư tưởng của Lê Nin, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Trước đây Marx, Lê Nin đều chủ trương công nhân là lực lượng chủ yếu trong cách mạng vô sản, là nòng cốt của đảng cộng sản. Chỉ có công nhân mới thực là vô sản, chứ không phải nghèo là vô sản. Thế nào là nghèo? Thế nào là vô sản? Nghèo là một danh từ ai cũng hiểu, ai cũng biết nhưng rât khó định nghĩa. Không có tài sản là nghèo. Đồng ý, nhưng ít nhất anh cũng phải có một bộ áo quần trong người, hai cánh tay, một bộ óc. Không ai không có tiền, ít nhất cũng có một số vốn: một hai đồng. Nếu đồng ý nhận định trên, thì ai cũng có tài sản từ một bộ quần áo cho đến ruộng ngàn mẩu, nhà trăm cái. Và ai cũng có tiền, từ một đồng cho đến một triệu đồng, một tỷ đồng. Vậy từ một đồng đến mấy đồng mới gọi là nghèo? Đối với tỷ phú, thì hạng một trăm ngàn là nghèo. Đối với hạng một đồng thì mười ngàn đã là giàu. Tuy không rõ định nghĩa giàu nghèo, và không cần làm một bản thống kê, ai cũng biết đa số dân chúng là nghèo. ‘’Trâu cột thì ghét trâu ăn’’Cộng sản đã lợi dụng điều này để chia rẽ giàu nghèo và đưa ra hứa hẹn tranh đãu cho công bình xã hội, chia ruộng đất tài sản cho dân nghèo. Chính vì phỉnh phờ như vậy mà nhiều người theo cộng sản, ngay cả những cậu ấm cô chiêu hay con nhà phú gia, hoặc khoa bảng đầy mình như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo! Chính vì khẩu hiệu lấy của nhà giàu chia cho người nghèo mà các bọn cướp ngày xưa như đám Lương Sơn Bạc có nhiều người theo! Cải cách ruộng đất là thực hiện lời hứa này nhưng chẳng bao lâu đảng lấy lại ruộng đất và bắt dân làm nô lệ, làm tá điền trong những hợp tác xã. Còn thế nào là vô sản? Sau 1975, dân chúng miền nam mới bật ngữa ra khi cộng sản giải thích: theo Marx và Lê Nin, vô sản hay công nhân là những thợ thuyền làm trong những nhà máy hiện đại của tư bản. Những kẻ ăn trộm, ăn cắp là vô sản lưu manh. Theo định nghĩa này, Việt Nam không có bao nhiêu vô sản, may ra chỉ những thợ làm hãng Ba Son, nhà máy dệt Nam Định hay công nhân mỏ than Hòn Gai trước 1945 mới là vô sản thứ thiệt. Như vậy, ông Hồ chí Minh, thợ làm trong tiệm ảnh, và phụ bếp dưới tàu thủy, ông Võ Nguyên Giáp, cử nhân, giáo sư trường tư thục Thăng Long, ông Đỗ Mười hoạn heo, ông Võ Chí Công tuần phu, Lê Duẩn bẻ ghi tàu hỏa, Trần Quốc Hoàn là vô sản lưu manh. . . đều không phải là vô sản hay công nhân. Vả lại công hay nông, bản chất chẳng khác nhau bao nhiêu mặc dù Marx và Lê nin đề cao công nhân, cho rằng vì làm việc chung trong công xưởng ( nông dân sống riêng rẻ) nên công nhân có ý thức tranh đãu cao hơn ( công nhân dễ bị xách đng biểu tình, đình công). Ở Trung quốc, nông dân nhiều hơn công nhân, công nhân chỉ là một thành phần rất nhỏ, làm sao lãnh đạo nông dân? Mao thấy Marx và Lênin sai lầm vì ngay ở Nga, nông dân bao giờ cũng chiếm đa số, cho nên Mao cải lại Marx và Lê nin, đưa ra thuyết công nông là hai giai cấp tiên tiến trong cách mạng vô sản. Nhưng rồi Mao cũng chỉ là một bạo chúa, một tên tội đồ trong lịch sử Trung Quốc vì y đã gây ra bao tội ác và đưa đến bao đau khổ cho nhân dân trong quốc. Đặng Tiểu Bình thấy Mao sai lầm bèn bỏ ý thức hệ cộng sản, đưa ra khẩu hiệu’’ mèo trắng mèo đen đều tốt miễn là bắt được chuột’’. Chính Đặng Tiểu BÌnh, người thân tín của Chu Ân Lai cũng bị Mao va bọn tứ nhân bang bỏ tù vì tội thiên hữu, chống đảng. Sau khi Mao chết, Đặng lại ngoi lên, đưa ra chính sách mở cửa, tư hữu hóa, cải cách cơ cấu kinh tế cho nên Trung quốc ngày càng đi lên. Đặng Tiểu Bình già, chết, quyền trao tay Giang Trạch Dân. Vẫn là theo tục lệ truyền ngôi chứ không bầu cử như tây phương. Giang Trạch Dân tiếp tục chính sách đổi mới của Đặng Tiểu Bình. Nay thì Giang Trạch Dân đưa ra thuyết ‘’ Ba đại diện’’, nghĩa là đảng cộng sản nay công nhận tư sản ngang hàng với công nhân và nông dân. Mao cho nông dân ngang hàng với công nhân là một điều trái với Marx, Engels và Lenine nhưng vẫn có thể được. Nhưng đến Đặng Tiểu BÌnh với thực dụng chủ nghĩa, bắt tay tư bản và tái lập tư hữu là những điều hoàn toàn trái ý thức hệ Mác Lê! Nay Giang Trậch Dân lại đi xa hơn nữa trong việc phản lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách công nhận tư sản, coi tư bản là đồng chí chứ không còn là kẻ thù như Marx và Engels đã chủ trương. Phải chăng cộng đảng Trung quốc sau Mao với Đặng Tiểu Binh, Giang Trạch Dân đã và đang thực hiện con đường tư bản hóa và dân chủ hóa một cách tuần tự và hòa bình? Điều này chúng ta phải còn chờ đợi.
Dẫu sao Đặng TIểu Bình và Giang Trạch Dân cũng đã thông minh và khôn ngoan mà nhận thấy sai lầm của Mao và cương quyết thực hiện cải cách. Nhờ Đặng và Giang mà kinh tế phát triển, dân Trung quốc chưa có tự do nhưng có cơm no áo ấm hơn thời Mao! Tuy nhiên, Đặng và Giang vẫn chưa cải cách chính trị, vẫn còn độc đảng, vẫn cộng sản thống trị, vẫn áp bức, đàn áp tôn giáo, cấm mọi thứ tự do vẫn chủ trương bành trướng và đe dọa hoà bình thế giới. Tư sản nay được vào đảng, được giữ các chức vụ cao trong đảng. Nhưng đó là thực tế hay chỉ là một thuật mua chuộc tư bản? Những thực tế sau đây cho phép ta nghi ngờ:
- Ngày nay Trung quốc, nạn hối lộ vẫn mạnh.
- Nạn con ông cháu cha vẫn là một truyền thống từ xưa.
- Tư hữu hóa hay tư hữu hóa quốc doanh chỉ là hình thình trao tài sản quốc gia cho tư sản đỏ.
- Công nhận tư sản là công nhận tư sản đỏ, là một hình thức công nhận con ông cháu chavà bè đảng của các lãnh chúa .
Nói chung, thêm tư sản hay không thêm tư sản, bản chất vẫn là thế, nhưng dẫu sao cái mồi vẫn thơm rất quyến rủ đối với những tư sản Trung quốc trong nước và nước ngoài để khuyến khích họ đầu tư thêm để làm giàu cho tư sản đỏ.
Cộng sản Việt Nam là một đồ đệ trung thành của Trung quốc. Việt Nam trước đây chống Trung quốc nhưng vẫn áp dụng chính sách khoán sản phẩm và chính sách mở cửa của Trung quốc. Nay Trung quốc theo chính sách ba đại diện, mai đây Việt Nam cũng chép nguyên văn. Việc này có lợi cho Việt Nam để đưa tư sản đỏ vào quyền lực đảng, đồng thời vuốt ve những nhà tư sản Việt Nam trong nước và hải ngoại.
Đó là những mánh khóe chính trị giả dối mà Việt Nam sẽ áp dụng. Chúng ta là những chiến sĩ tranh đãu cho chính nghĩa quốc gia không dễ lung lạc trước những mánh khóe vụn vặt của cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của chúng ta là tranh đãu cho tụ do và dân chủ thật sự, nghĩa là Việt Nam phải có đa đảng, phải có tự do tôn giáo, tự do báo chí .Tự do thật sự chỉ có được khi tiêu diệt cộng sản ác ôn tàn bạo.

 

 

Quốc Gia, Dân Tộc và Địa Phương Phân Quyền

                                                                   
Minh Vũ Hồ Văn Châm

Từ hơn nửa thế kỷ nay, người Việt Nam chúng ta bàn tán, thảo luận nhiều về các ý niệm quốc gia và dân tộc, quốc gia và quốc tế, quốc gia và cộng sản. Vì lẽ quốc tế là đối vị của quốc gia, mà cộng sản trong bản chất là quốc tế, nên người Việt Nam chúng ta trong bấy lâu nay có thói quen sử dụng các từ quốc gia và cộng sản như là biểu thị của các ý niệm và thực thể đối kháng nhau. Mặt khác, không phải chỉ có quốc tế mới là đối vị của quốc gia, mà còn có một ý niệm khác không kém phần quan trọng đối kháng với từ quốc gia, đó là ý niệm địa phương. Thực vậy, quốc gia là nước, lớn hơn nước là quốc tế, nhỏ hơn nước là địa phương. Thế thì tại sao khi bàn tán, thảo luận về các vấn đề liên quan đến quốc gia, dân tộc, chúng ta chỉ chú trọng đến khía cạnh quốc gia và quốc tế mà xem nhẹ khía cạnh quốc gia và địa phương, cũng như có thói quen mặc nhiên thừa nhận quốc gia và cộng sản là những ý niệm và thực thể đối kháng với nhau.

Nguyên do chính yếu của tình hình vừa nêu trên là vì bước chân vào thế kỷ hai mươi, đất nước chúng ta vẫn còn đắm chìm trong tình trạng một xã hội nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Các nỗ lực giải phóng dân tộc thoát vòng nô lệ ngoại bang thường đi đôi với nỗ lực khôi phục vương triều nhà Nguyễn. Nói một cách khác, cho đến thời điểm này, ở nước ta, ý niệm ái quốc đi liền với ý niệm trung quân, và tinh thần quốc gia chưa được hình thành. Phải đợi đến thập niên những năm hai mươi, sau khi Phan Tây Hồ lên tiếng chế riễu ” Ai về địa phủ hỏi Gia Long, Khải Định thằng này phải cháu ông?”, và nhất là sau khi mười ba liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài ở Yên Bái vào năm 1930, thì ý niệm ái quốc mới tách rời khỏi ý niệm trung quân, và tinh thần quốc gia dân tộc mới được hình thành và khẳng định. Cũng cùng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc viết kịch “Con rồng tre” đả kích Nam triều, và theo lệnh Đệ tam Quốc tế kết hợp ba tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, để thành lập Việt Nam Cộng sản Đảng vào đầu năm 1930 tại Quảng Châu (đến cuối năm 1930 thì Trần Phú đổi lại tên là Đông Dương Cộng sản Đảng). Tất cả các tổ chức chính trị lúc bấy giờ, cả cộng sản lẫn không cộng sản, đều chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp để giải phóng đất nước và kích động tình tự dân tộc để tổ chức quần chúng. Vì những điểm tương đồng rất cơ bản này mà thành phần quần chúng trí thức không chú tâm phân biệt cộng sản với không cộng sản, mà chỉ hời hợt nhận thức bản chất quốc gia hay quốc tế của các tổ chức chính trị đương thời. Đông Dương Cộng sản Đảng là một bộ phận của Đệ tam Quốc tế, mang tính chất quốc tế rõ rệt, nên tất cả những tổ chức nào không phải là cộng sản (CS đệ tam lẫn đệ tứ) đều được gộp lại dưới một danh xưng chung là quốc gia, để rồi dần dà quốc gia trở thành đối vị của cộng sản.

Từ đó cho đến nay, người Việt Nam chúng ta cứ quen đem quốc gia ra đối kháng với cộng sản. Tàu Tưởng với Tàu Mao đánh nhau thì gọi là chiến tranh Quốc Cộng. Việt Minh với Quốc Dân Đảng kình chống nhau thì gọi là phân tranh Quốc Cộng. Từ cơ sở đó, hễ cái gì chống lại cộng sản thì được gộp lại thành một danh xưng chung chung là quốc gia. Như vậy là không được chính xác. Từ quốc gia bao hàm nhiều ý niệm cao sâu, không thể tùy tiện dùng làm đối vị với từ cộng sản. Người Việt Nam cộng sản lấy chủ nghĩa Mác Lê làm kinh điển, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam. Người Việt Nam không theo chủ nghĩa cộng sản nhận định rằng chủ nghĩa Mác Lê là không tưởng, là ngụy biện, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là những ý tưởng của người khác được lặp lại, không có gì mới lạ. Người Việt Nam không theo chủ nghĩa cộng sản có thể là đa số quần chúng thầm lặng, hay có thể là những người chống cộng nhiệt tình, nhưng cho dù thuộc thành phần nào chăng nữa thì chính xác họ là những người không cộng sản. Do đó, đối vị của cộng sản là cụm từ không cộng sản.

Mặt khác, đối vị của tinh thần quốc gia là tinh thần quốc tế và tinh thần địa phương. Quốc gia bao hàm hai ý niệm cơ bản là trong cả nước và cho toàn dân. Hễ một trong hai ý niệm đó không được thể hiện đúng mức hoặc thiếu trọn vẹn thì mất đi tính chất quốc gia. Quốc tế có thể mang nhiều hình thái. Quốc tế có thể là chính trị, là quân sự, là tôn giáo, là kinh tế, là văn hóa, là xã hội. Dù cho toàn dân, nhưng một khi đã là quốc tế, thì quốc gia bị phủ lấp, quyền lợi quốc gia không được tôn trọng, phúc lợi dân tộc phải chịu hy sinh cho nghĩa vụ quốc tế. Nếu là quốc tế mà lại không phải cho toàn dân thì càng tệ hại hơn, chẳng những quyền lợi quốc gia bị hy sinh mà phúc lợi dân tộc cũng hoàn toàn bị quên lãng. Chung qui chỉ có thiểu số hưởng đặc quyền đặc lợi là ngồi mát ăn bát vàng, sống no say phè phỡn trên sự điêu tàn của quốc gia và nỗi khốn cùng của đại khối dân tộc. Tinh thần địa phương cũng tác hại không kém. Địa phương thì đương nhiên không thể nào là trong cả nước và cho toàn dân. Địa phương xói mòn, phá nát sự thống nhất quốc gia. Địa phương phân hóa, hủy hoại tình đoàn kết dân tộc. Tinh thần địa phương làm nẩy sinh sự đố kỵ giữa các địa phương, sự bất phục tùng trung ương, đưa đến hậu quả cát cứ và nội chiến, quốc gia vỡ vụn thành nhiều mảnh, dân tộc chia rẽ thành nhiều nhóm sống trong hận thù.

Quốc gia là không cộng sản, vì lẽ cộng sản là quốc tế. Nhưng cộng sản Việt Nam trong quá khứ lại thường gian trá đội lốt quốc gia, và triệt để khai thác tình tự dân tộc. Ngày nay, mặt nạ yêu nước thương dân của cộng sản Việt Nam đã bị vỡ vụn, bộ mặt thật của cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình, và người Việt Nam chúng ta, sau bao nhiêu kinh nghiệm cay đắng, đã nhận chân thực tế phũ phàng là đối với cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản mới là cứu cánh, còn quốc gia chỉ là chiêu bài, dân tộc chỉ là phương tiện. Tuy vậy, cộng sản Việt Nam trăm mưu nghìn kế, ngày nay vẫn tiếp tục lừa mị quần chúng ngây thơ, nhất là trí thức và tuổi trẻ nhiệt tình, sử dụng các hình thái văn nghệ tâm lý chiến để kích động lòng yêu nước thương dân của các thành phần này, đồng thời mập mờ khoác trở lại lên mình cái lốt mới quốc gia dân tộc. Bởi vậy, người Việt Nam chúng ta ngày nay vẫn cần phải cảnh giác thủ đoạn quỉ quyệt của người cộng sản để tỉnh táo nhận định chân với giả. Trong ý hệ Mác Lê, dứt khoát là không có chỗ đứng cho hai tiếng quốc gia. Trong ý hệ Mác Lê, tình tự dân tộc bị chê là ấu trĩ, chủ nghĩa dân tộc bị chê là hẹp hòi. Người Việt Nam cộng sản đặt quyền lợi Đảng Cộng sản của họ lên trên quyền lợi quốc gia và không đếm xĩa gì đến phúc lợi dân tộc. Mọi hành vi và ngôn ngữ yêu nước thương nòi chỉ là những màn kịch khéo đóng. 

Quốc gia là chống cộng, nhưng ngược lại, không phải bất cứ cơ cấu chống cộng nào cũng có thể gộp chung lại thành một tổng thể để mệnh danh là quốc gia. Thực vậy, nếu có những cơ cấu chống cộng ở phạm trù cả nước thì cũng có những cơ cấu chống cộng mang tính chất quốc tế hoặc địa phương. Mặt khác, đã từng có những cơ cấu chống cộng tự nhận là quốc gia nhưng không lấy quyền lợi quốc gia làm cứu cánh, lấy phúc lợi dân tộc làm đối tượng, mà trong thực tế, chỉ nhằm vào việc đấu tranh với đảng cộng sản cầm quyền để tranh giành đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số thành phần nhân dân mang tính chất giai cấp, tôn giáo, địa phương, hoặc chủng tộc. Do đó, vấn dề đặt ra ở đây là vấn đề chính danh. Quốc gia là chống cộng, quốc gia và chống cộng có chung một mục tiêu đấu tranh là thực hiện sự giải thể chế độ cộng sản và triệt tiêu chính quyền chuyên chính vô sản, nhưng quốc gia với chống cộng cực đoan có sự khác biệt tế nhị là quốc gia chống cộng nhưng không bao giờ vì sự nghiệp chống cộng mà đi ngược quyền lợi tối thượng của quốc gia và hy sinh phúc lợi của đại khối dân tộc. 

Tinh thần quốc gia là yếu tố căn bản để thực hiện và củng cố sự thống nhất quốc gia và tình đoàn kết dân tộc. Một khi đã nhận định rằng đối vị của quốc gia là quốc tế và địa phương thì song song với sự nghiệp bảo vệ đất nước chống lại các hình thái xâm lược hoặc áp đảo của các thế lực quốc tế, người Việt Nam chúng ta ngày nay cần phải nhanh chóng tìm cách giải tiêu tinh thần địa phương vốn là uyên nguyên của tình trạng kỳ thị và chia rẽ nam bắc của đất nước chúng ta xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển dân tộc. Các yếu tố lịch sử và địa lý đã hình thành trên quốc gia Việt Nam hai khu vực lớn chung quanh Hà Nội và Sài Gòn. Hai trung tâm này kèn cựa nhau để tranh giành ngôi vị thủ đô nước Việt Nam thống nhất. Tình trạng này quả tình là không thích hợp với chính sách trung ương tập quyền. Cần thực hiện ngay sự phân quyền rộng rãi cho địa phương. Trung ương chỉ cần nắm chính cương chính sách, và một vài lĩnh vực trọng yếu trên phạm trù quốc gia như ngoại giao, quốc phòng, tiền tệ. Mọi việc khác nên để cho địa phương tự trị. Địa phương sẽ tùy nghi huy động nhân tài vật lực cơ hữu để phát triển khu vực của mình dưới sự điều hợp của trung ương cho ăn nhịp với chính sách chung của cả nước.

Hà Nội và Sài Gòn đều là đại địa, là trung tâm của những miền rộng đất, đông dân và nhiều của. Tuy vậy, chính quyền trung ương của nước Việt Nam thống nhất không nên đóng ở Hà Nội hoặc Sài Gòn. Nếu thủ đô đóng ở một trong hai trung tâm lớn này thì trung tâm kia sẽ cảm thấy bị thua thiệt, bị lấn ép, bị khai thác, bị bóc lột, bị lãng quên, bị kìm hãm, để trung ương qui tụ nhân tài và tập trung vật lực của cả nước vào việc tô bồi, tân tạo và phát triển thủ đô. Năm 1902, phủ Toàn Quyền Đông Dương thuộc Pháp dời từ Sài Gòn ra Hà Nội thì Sài Gòn hậm hực. Năm 1948, chính quyền Quốc Gia Việt Nam đặt thủ đô ở Sài Gòn thì Hà Nội bất mãn. Năm 1976, hiệp thương hai miền Nam Bắc thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với Hà Nội tiếp tục làm thủ đô thì Sài Gòn và miền Nam uất ức. Cứ cái đà này thì mâu thuẫn bắc nam mỗi ngày một thêm trầm trọng, tinh thần kỳ thị địa phương mỗi ngày một thêm sâu sắc, nguy cơ cát cứ và phân ly mỗi ngày một thêm đè nặng lên nền thống nhất quốc gia và tình đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, song hành với việc để các địa phương nam bắc được tự trị rộng rãi, chính quyền trung ương của nước Việt Nam thống nhất nên đặt ở một nơi khác, không nam không bắc. Nếu Việt Nam chia làm hai miền tự trị thì chính quyền trung ương đặt ở Huế. Nếu Việt Nam chia làm ba miền Trung Nam Bắc thì chính quyền trung ương đặt ở Đà Lạt. 

Nếu Việt Nam chia làm hai miền thì từ Quảng Trị trở ra thuộc về Hà Nội, từ Quảng Nam trở vào thuc về Sài Gòn. Nếu Việt Nam chia làm ba miền thì Thanh Hóa thuộc về miền Bắc, Bình Thuận thuộc về miền Nam, từ Nghệ An đến Ban Mê Thuột và Khánh Hòa là miền Trung. Để phát triển khu vực miền Trung ngang tầm với hai miền Nam Bắc, cần gộp hai thành phố Huế và Đà Nẵng thành một phức hợp đô thị có một tổ chức quản lý hành chánh duy nhất. Huế-Đà Nẵng sẽ vừa là trung tâm địa lý, chính trị, kinh tế và văn hóa của miền Trung, vừa là nền móng vững chãi cho sự thống nhất lãnh thổ và sự hòa hợp nhân tâm của quốc gia và dân tộc Việt Nam. Huế có thế mạnh lịch sử và văn hóa, Đà Nẵng có thế mạnh địa lý và kinh tế. Huế có vị trí chiến lược của thành Khu Túc thời Bắc thuộc, có vai trò chính trị của Hóa Thành thời Trần Lê, có dấu ấn văn hóa của cố đô Phú Xuân thời các vua chúa nhà Nguyễn. Đà Nẵng là mắt xích quan yếu của hệ thống hàng không hàng hải quốc tế đông tây. Đà Nẵng nằm ngay trên đường bay quốc tế A1. Lệ phí Hồng Kông (Hongkong fee) của Đà Nẵng, tính theo vị trí xa gần đối với thủy đạo từ Singapore đi Hong Kong men theo bờ biển Phi Luật Tân, thì tương đương với Vũng Tàu và Cam Ranh, và thấp hơn Hải Phòng rất nhiều. Nếu thủy đạo Singapore-Hồng Kông men theo bờ biển Trung Bộ và Hải Nam thì Đà Nẵng và Cam Ranh nằm ngay trên hải trình. Đà Nẵng lại là cảng biển nước sâu (cảng Nam Thọ ở mặt đông bán đảo Sơn Chà), thuận lợi hơn các cảng Sài Gòn và Hải Phòng phải đi vào cửa sông.

Nếu phát triển riêng rẽ, Huế cũng như Đà Nẵng đều bộc lộ những mặt mạnh mặt yếu. Nhưng nếu tổ chức lại thành một phức hợp đô thị, Huế-Đà Nẵng sẽ bổ khuyết cho nhau để tự giải hóa các mặt yếu, đồng thời phát huy được tối đa các mặt mạnh. Ngược dòng lịch sử, Huế-Đà Nẵng là địa bàn giao thoa của hai văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh, là nơi đối đầu của hai văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, và là chiến trường tranh chấp giữa hai quốc gia Cổ Việt và Cổ Chiêm. Trước khi Đại Việt và Chiêm Thành thống nhất, Huế và Đà Nẵng luôn luôn cùng thuộc về một phân hạt hành chánh, dù là thuộc Chiêm hay thuộc Việt. Thuộc Chiêm thì cùng là châu Lý (Ri), thuộc Việt thì cùng là châu Hóa. Đến khi An Nam thống nhất với Việt Thường để trở thành Việt Nam thì Huế trở thành kinh đô và Đà Nẵng là cửa ngõ của triều đình. Nằm ở đầu mối giao thông hàng không hàng hải quốc tế, Đà Nẵng lo việc giao lưu với bên ngoài. Nằm ở đầu mối hành lang đông tây, Huế phụ trách việc thâm nhập và khai thông nội địa. Từ ngã ba Tuần, ngược nguồn Tả Trạch, nếu qua đèo Khiêm Quang thì ta vào thượng đạo Quảng Nam, nếu qua thung lũng A Sau và huyện Hiên huyện Giàng thì ta lên Tây Nguyên hoặc qua Biển Hồ. Cũng từ ngã ba Tuần, ngược nguồn Hữu Trạch lên huyện A Lưới, nếu theo đường xuyên sơn thì ta qua Paksé, nếu vượt đèo Lao Bảo thì ta qua Savanakhet, Korat, và Thượng Lào. Đường hầm Hải Vân đang được thi công sẽ thu ngắn khoảng cách 107 kilômét giữa Huế và Đà Nẵng còn lại năm bảy chục kilômét, vừa vặn là đường kính của một đô thị thông thường trên thế giớì ngày nay. Mặt khác, đèo Lao Bảo có độ dốc rất xuôi, các điểm cao cũng chỉ trên dưới 200 mét, cho nên các dự án đường sắt và sông đào Đông Hà-Savanakhet đã hoạch định từ thời Pháp thuộc và Nhật thuộc có nhiều khả năng được thực hiện dễ dàng với trình độ kỹ thuật hiện đại.

Mỗi khi đề cập các vấn đề chính trị và văn hóa của đất nước, cũng như thảo luận các vấn đề phát triển kinh tế và cải tiến dân sinh, người Việt Nam chúng ta ngày nay nên gạt bỏ tinh thần địa phương để nâng tầm nhìn lên cao bao quát toàn bộ lãnh thổ quốc gia, từ bắc xuống nam, từ biển lên rừng, chứ không nên khư khư tự giới hạn trong khuôn khổ một khu vực, một địa phương. Đành rằng các lưu vực sông Hồng sông Mã là nơi hình thành dân tộc Việt Nam qua tiến trình hỗn chủng giữa dân Tiền Việt và dân Hán Hoa Bắc, nhưng địa bàn dân Tiền Việt tỏa rộng khắp miền Hoa Nam và bán đảo Đông Dương, cho nên chúng ta không nên tự giới hạn lãnh thổ ban đầu của chúng ta trong mỗi một huyện Tây Vu hoặc quận Giao Chỉ. Nước Văn Lang hay Môn Lang, có nghĩa là làng của người Môn, đất nước của người Môn, vươn dài lên tới hồ Động Đình. Cha rồng họ Lạc, mẹ tiên họ Âu, rõ ràng đất nước thời hồng hoang đã bao gồm cả Bắc Việt (Lạc Việt) lẫn Lưỡng Quảng (Âu Việt). Thế thì tại sao Thục Phán từ Tây Âu xuống kiêm tính Lạc Việt, lập ra nước Âu Lạc, lại được thừa nhận là vua Việt Nam, còn Triệu Đà từ Âu Việt qua thôn tính Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt, đã được sử cũ thừa nhận là vua Việt Nam, lại bị các sử gia Hà Nội xem là quân xâm lược? Phải chăng vì Thục Phán đóng đô ở Cổ Loa huyện Tây Vu, còn Triệu Đà đóng đô ở Phiên Ngung huyện Nam Hải, bên ngoài lãnh thổ miền bắc nước ta ngày nay? Chả thế mà nhà cầm quyền Hà Nội có dự án khôi phục lại thành Cổ Loa, một việc làm vừa phi kinh tế, vừa không có ý nghĩa, bởi lẽ chỉ có vòng thành ngoài hình trôn ốc bằng đất là của An Dương Vương, chứ thành vuông bằng gạch bên trong là thành của Mã Viện. 

Công nghiệp của Thục Phán và Triệu Đà đều nên được xem như là nỗ lực thống nhất dân tộc, nghĩa là thâu gồm các lãnh thổ vụn vặt thành một đất nước rộng lớn, tập hợp các vương quốc nhỏ bé thành một quốc gia hùng mạnh, trên nền móng một quốc dân hợp nhất là chủng tộc Bách Việt. Sự kiện này được nhìn nhận trong bức thư của Hán Văn Đế gửi Triệu Vũ Vương, cũng như qua quyết định của Hán Vũ Đế duy trì toàn thể lãnh thổ Nam Việt trong một tổ chức riêng biệt gọi là Giao Chỉ Bộ, mà về sau được đổi lại là Giao Châu. Chỉ vì nhà Đông Ngô không kềm chế nỗi Sĩ Nhiếp, tuy đã cử Bộ Chất làm Thứ Sử Giao Châu, nhưng vẫn phải chịu để Sĩ Nhiếp kiêm tính cả hai thành Quảng Tín và Luy Lâu, cũng như phải chịu để Sĩ Nhiếp cắt cử anh em chia nhau giữ chức Thái Thú các quận Nhật Nam, Hợp Phố và Nam Hải, nên sau khi Sĩ Nhiếp chết, Ngô Tôn Hạo bèn chia Giao Châu làm hai châu Giao, Quảng. Sĩ Nhiếp với Triệu Đà, tuy bên văn bên võ khác nhau, nhưng công trạng đối với dân ta có mức độ tương đồng, nếu Sĩ Nhiếp đã được tôn xưng là Sĩ Vương, là Nam Giao Học Tổ, thì lẽ nào Triệu Đà, người đã đưa dân ta từ văn minh đồ đồng tiến lên văn minh đồ sắt, lại không được thừa nhận là vua chúa Việt Nam?

Cũng cùng một chiều hướng, việc Khu Liên ở huyện Tượng Lâm dựng nền tự chủ, lập ra nước Lâm Ấp, phải được xem như là sự nghiệp giải phóng cư dân bản địa thoát khỏi sự đô hộ của người Tàu. Vào thời điểm này, cư dân bản địa ở huyện Tượng Lâm không có gì khác biệt với cư dân bản địa ở huyện Tây Quyển hoặc ở huyện Tây Vu. Mặt khác, một số vua chúa Lâm Ấp buổi đầu như Phạm Văn, Phạm Phật, Phạm Hồ Đạt lại là di dân gốc Hán, y hệt Triệu Đà ở Nam Hải, Sĩ Nhiếp ở Thương Ngô, Lý Bôn ở Giao Chỉ. Vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại II lại đã từng đòi hỏi nhà Tống (Nam Bắc triều) giao trả quyền thống lĩnh toàn bộ Giao Châu. Bởi vậy, cuộc chiến tranh ở biên cương giữa Lâm Ấp với Giao Châu phải được người Việt Nam chúng ta ngày nay xem là cuộc đấu tranh với quân giặc xâm lược để tiếp tục hoàn chỉnh sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nếu Thục Phán và Triệu Đà đã được sử cũ xem là vua chúa Việt Nam thì vua chúa Lâm Ấp cũng như vua chúa Chiêm Thành về sau phải được người Việt Nam chúng ta ngày nay thừa nhận là vua chúa Việt Nam, ít nhất cũng ngang tầm với vua chúa các thời đại đất nước qua phân Mạc, Lê Trung Hưng, Trịnh, Nguyễn, và Tây Sơn. 

Với góc nhìn và thế đứng được điều chỉnh lại, song hành với việc tái tổ chức lãnh thổ và phân quyền rộng rãi cho các địa phương, người Việt Nam chúng ta ngày nay, một mặt sẽ gột bỏ được tinh thần kỳ thị địa phương, chia rẽ nam bắc, mặt khác sẽ rũ sạch tâm lý phục Tàu, sợ Tàu, chạy theo đuôi Tàu, đồng thời sẽ có thái độ thân ái hơn, cư xử bình đẳng hơn, không còn mang nặng đầu óc tự tôn quá đáng trong khi giao tiếp với các sắc tộc anh em trong cộng đồng dân tộc. Chúng ta nâng tầm nhìn lên cao để bao quát cả khu vực cư dân Bách Việt, rọi ánh sáng tìm tòi lùi xa trở lại thời sơ sử mịt mù, và chúng ta sẽ hóa giải mưu mô thâm độc của người Hán cứ tìm mọi cách để chúng ta tự mình đồng hóa với người Tàu. Cha rồng họ Lạc, mẹ tiên họ Âu đều là người đồng chủng. Làm gì có chuyện Âu Cơ vốn là người bắc (người Hán), muốn đem 50 con về bắc nhưng bị Hoàng Đế đem binh ngăn trở. Lúc bấy giờ, Hoàng Đế còn ở tận trên thảo nguyên Cam Túc, đâu đã có mặt ở Giang Nam. Thực tế lịch sử là không hề có liên hệ huyết thống giữa Việt tộc và Hán tộc vào thời bấy giờ. Chỉ từ khi Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư mang quân đi đánh Bách Việt, sự hỗn chủng mới xẩy ra. Do yếu tố di dân Hán mà phát sinh sự phân hóa cư dân Tiền Việt thành hai tộc Việt Mường riêng rẽ, nhưng người Việt vẫn không phải là người Hán, người Việt vẫn bảo lưu được nhiều đặc điểm nhân chủng và yếu tố văn hóa cội nguồn, nhờ vậy mà người Việt không bị tuyệt giống.

Tuy nhiên, người Tàu cũng đã thành công một phần trong việc làm cho đa số người Việt tự nhận là hậu duệ của di dân gốc Hán. Người Việt Nam chúng ta ngày nay cần ý thức rằng cho dù gia phả chúng ta còn ghi tiên tổ xa xưa vốn người Chân Định (Triệu Đà) hay người nước Lỗ (Sĩ Nhiếp), người đất Mân (Trần Thủ Độ) hay người Triết Giang (Hồ Quý Ly), thì trong máu thịt chúng ta cũng vẫn có ít nhiều yếu tố bản địa, khiến đầu chúng ta đa số có chỉ số sọ dài, khiến máu chúng ta đa số thuộc nhóm máu loại O. Dứt khoát chúng ta là người Việt chứ không phải là người Hán. Chúng ta phải chấm dứt việc sử dụng góc nhìn và thế đứng rập khuôn theo người Tàu mỗi khi đề cấp đến các vấn đề chính trị và văn hóa Việt Nam. Chúng ta đừng theo đuôi người Tàu gọi bà Triệu là con mụ Triệu (Triệu Ẩu), truyền tụng với nhau rằng bà Triệu chết đi được Thượng Đế cho làm thần ôn dịch, xuyên tạc việc dân chúng Cửu Chân bày tượng thần linga trong đền thờ bà Triệu là để trấn áp ôn dịch bởi vì bà Triệu là phụ nữ, nay tuy làm thần ôn dịch nhưng vẫn không thoát khỏi tính cả thẹn khi nhìn thấy các hình tượng sinh thực khí (Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên). Chúng ta cũng đừng theo đuôi người Tàu gọi người Lâm Ấp là dân man, gọi các đạo binh Lâm Ấp đánh vào Nhật Nam, Cửu Chân và Giao Chỉ là quân giặc cướp, bởi lẽ tiên tổ người Lâm Ấp – Chiêm Thành cũng là di dân người Môn Nam Á đợt hai đã từ Hoa Nam tiến vào bờ biển Tượng Lâm cùng thời với đám di dân tiến vào bờ biển Giao Chỉ, và thực tế lịch sử đã chứng minh rằng mục đích tiến quân của Lâm Ấp là để đánh đuổi quân Tàu xâm lược ra khỏi Giao Châu, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bằng cớ hiển nhiên của sự kiện này là việc quân Lâm Ấp tiến chiếm thành Khu Túc (Thừa Thiên), triệt hạ các quận thành Cữu Chân (Thanh Hóa) và Giao Chỉ (Bắc Ninh) năm 248 sau Công nguyên, đã xẩy ra cùng một lúc với việc khởi nghĩa của Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh, và trước áp lực của đạo quân Lục Dận, khi quân Lâm Ấp phải rút lui thì việc khởi nghĩa của anh em họ Triệu cũng thất bại.

Người Việt Nam chúng ta thường xuyên phải đối đầu với âm mưu của người ngoài luôn luôn toan tính xé nát quốc gia Việt Nam làm nhiều mảnh, chia rẽ quốc dân Việt Nam thành nhiều nhóm, bằng nhiều hình thức tinh tế và đa dạng nhằm mục đích khoét sâu các dị biệt nam bắc, các bất đồng địa phương, các mâu thuẩn sắc tộc. Với góc nhìn và thế đứng được điều chỉnh lại như thế, chúng ta dễ dàng phát huy tinh thần quốc gia, vun quén tình tự dân tộc, và củng cố sự đoàn kết quốc dân, để vô hiệu hóa các kế hoạch thâm độc của người ngoài. Thực tế lịch sử là không hề có sự kiện vương quốc Đại Việt thôn tính vương quốc Chiêm Thành, sắc dân Kinh đồng hóa sắc dân Thượng. Quốc gia Việt Nam ngày nay là kết quả của sự thống nhất An Nam với Việt Thường, được hình thành từ thuở hồng hoang trên cùng chung một cơ sở đất nước và con người : Văn Lang, hay Môn Lang, làng của người Môn, đất nước của người Môn. (tháng 10/02)

TIẾNG NỨC NỞ OAI HÙNG CỦA MỘT NGƯỜI MẸ

Nguyễn Hữu Hùng-Toronto

Kính tặng bà Kim Dung, mẹ của Lê Chí Quang

Lẽ ra bài này phải được viết trước đây một tháng để ca tụng một người đàn bà Việt Nam hiện đang ở trong gông cùm cộng sản, đè nén được những cơn xúc động cùng với những đau thương trong lúc đứa con ruột của mình bị bắt về việc viết và đăng những loạt bài chóng tham nhũng, chốùng việc nhường đất cho Bắc Triều, chốùng sự vi phạm Nhân quyền và lên tiếng với nhà cầm quyền Việt Nam hãy thay đổi theo chiều hứơng tự do dân chủ, đó là bà Nguyễn thị Kim Dung, mẹ của luật sư Lê Chí Quang, một tuổi trẻ được sinh sống và giáo dục theo đường lối Xả Hội Chủ Nghĩa nhưng em là người đã thể hiện được : gần bùn mà chăng hôi tanh mùi bùn.
Tôi rất sung sướng và khâm phục bà Kim Dung về đức tính từ mẫu của bà khi tôi nghe lại cuộc phỏng vấn của anh em thuộc tổ chức Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường với bà Kim Dung thực hiện trong những ngày trước ngày 8 tháng 11 là ngày nhà cầm quyền Việt Nam đưa em Lê Chí Quang ra tòa gán tội. Lòng từ mẫu của một con người có giòng máu Trưng Triệu nên bà vẫn giữa được sự bình tỉnh của mình trước sự đau thương nhất là đứa con trai của mình vừa bị bịnh nan y vừa bị giam cầm trong chế độ tàn bạo mà không có vấn đề nhân đạo nào trong đó để cứu chữa con mình..
Tôi còn khâm phục hơn nữa đức tính uy vũ bất năng khuất của bà về giọng nói trong sáng vững chắc của mình mà không hề lo sợ trước sự trả thù ngông cuồng của chế độ, bà vẫn thẳng thắng nói lên những gì con mình đã làm là vì phúc lợi cho mọi người, không có một hành động nào trái với pháp luật nhà nước thì không có lý do gì gán tội danh để bị xét xử về tội hình.
Những lời nói của bà là những thông điệp tình thương và dân chủ tự do gởi cho nhân loại nói chung và cho người Việt Nam nói riêng để những người hiện đang sống bên trong và ngoài Việt Nam phải nghe và hiểu sự tàn bạo của chế độ trong việc đối xử với con người có tư tưởng cần phải được phát biểu của mình. Chính những bài của Lê Chí Quang và những lời nói của bà Kim Dung mới có thể thức tỉnh được những con người
mê muội còn tin vào chủ nghĩa cộng sản hay là lối dân tộc ngụy biện để che dấu cái quyền lợi thấp hèn của mình đối với Bác và Đảng ban phát cho họ.
Hãy thử nghĩ nếu những bài viết của Lê Chí Quang được ký tên của một người Việt Nam nào đó từng sống trong chính quyền Miền Nam thì chắc chắn cho rằng đó là những tay bồi bút Mỹ Ngụy với lối suy nghỉ một chiều v.v..viết để chỉ trích chế độ.
Tôïi còn nhớ rõ lời bà nói trong phòng xử án khi con bà, Lê Chí Quang bị xử tù 4 năm và 3 năm quảng chế, bà đã nói : Ngay cả đến Tần Thủy Hoàng và Hitler cũng chủa tráo trở như các người, đồ chó má.
Đó là những lời chân thật nhất của một con người đứng trước sự áp bức vì chính điều 69 trong Hiến Pháp năm 1992 quy định : Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của luật pháp. Nhưng một khi người dân xử dụng cái quyền đó thì bị tù đầy, trù dập.
Một sự kiện càng khôi hài hơn nữa vào ngày 16/8/ 2001, Đảng Cộng sản kêu gọi nhân dân góp ý về vấn đề sửa đổi Hiến Pháp và Lê Chí Quang cũng đã viết bài góp ý sửa đổi hiến pháp 1992 như trong việc sửa đổ tên nước, bải bỏ câu văn .. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin… hoặc kêu gọi bỏ câu : ..Đảng đại diện cho cả dân tộc.. v..v…nghĩa là phải bãi bỏ sự độc tôn lảnh đạo của Đảng và chấp nhận tự do dân chủ thật sự. Hậu quả là em Quang phải bị tù đầy.
Bà Kim Dung còn xác nhận một câu tất khẳng khái của bà : Việt Nam cần phải có đa đảng mới thực sự có tự do dân chủ đã nói lên được ý thức cao độ của một người đàn bà bình thường đứng trước hiện trạng của đất nước.
Đúng như tiền nhân chúng ta đã thường nói : Nhi nhữ cũng anh hùng , thật không sai chút nào.
Tôi trần ngâm cầu nguyện cho em Quang, một đóa sen của Việt Nam có một người mẹ đáng kính như vậy , em sẽ là người làm gương sáng cho tuối trẻ Việt Nam trong cũng như ở ngoài nước Việ Nam hãy thức tỉnh theo gương của em, một người phất ngọn cờ cho tự do dân chủ để cứu 80 triệu người đang bị cai trị tàn bạo, bị bóc lột, bị móc túi để làm giàu trên sự đau khổ của đồng bào. Bọn người lảnh đạo có hàng trăm triệu đô la là một việc làm không chấp nhận được trong một nước thật sự dân chủ tự do.
Những lời nói của bà Kim Dung sẽ được chúng tôi cho phát thanh lại trong ngày Hội Luận Tự Do và Dân Chủ trong một ngày gần đây và mong rằng những người còn con tim thương yêu quê hương , dân tộc hãy cùng nhau đến tham dự.
Một con chim mẹ vừa bay qua khỏi nóc hiên nhà, miệng ngậm con chim con để thay tổ ấm bởi vì chiếc tổ ấm kia đang bị một loại rắn lục đến kiếm mồi. Loài chim còn biết bảo vệ cho con và tôi thấy rõ đôi cánh nhỏ bé của bà Kim Dung sẽ là một sức mạnh phá tung ngục tù cộng sản để cứu đứa con của bà ra khỏi căn nhà tù tội ở Việt Nam.
Lậy ơn trên che chở cho những người đang gập nạn tại Việt Nam vì tự do tôn giáo, tư do dân chủ của dân tộc. Tất cả sẽ được trả lại tự do trong một ngày rất gần và tòa án lịch sử sẽ sang trang với bộ máy lãnh đạo tàn ác ở Việt Nam.

Nguyễn Hữu Hùng

ĐỊNH MỆNH

Trương Quang Cảnh

Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao

(Nguyễn Du)

Thời kỳ thơ ấu, học sinh trường Khải Định và sinh viên ở đại học Phi.
Chúng ta đang ở vào tuổi mà trí nhớ có thể không còn tiếp tục minh mẫn như trước, bắt đầu quên dần dần theo thời gian những kỷ niệm trong cuộc đời. Anh Quỳnh Tiêu và Trần Văn Sơn thường nhắc tôi viết bài cho Tập San 48-55 Khải Định, tôi cứ hẹn hoài. Nay đã đến lúc tôi nhận thấy cần phải viết, trước là để bạn đọc cho vui, sau là giữ làm tài liệu cho con cháu đọc.
Sinh trưởng và lớn lên tại làng Hòa Viên, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ở nhà quê chẳng có nhiều trò chơi như ở thành thị, rảnh thì đi đánh vụ, chơi trốn bắt hay đi cỡi trâu với bạn bè ngoài đồng ruộng. Dãy nhà trước mặt nhà tôi phần lớn là các tiệm thuốc bắc của mấy gia đình người Tàu, dân gốc ở đảo Hải Nam. Tôi thích đọc sách, say mê nhất là các chuyện chưởng của Tàu. Con ông chủ nhà đối diện với nhà tôi có một tủ sách, cuốn nào cũng dày như cuốn tự điển, rảnh tôi hay sang đó đọc, không bao lâu tôi đã đọc hết sách của anh ta, có lúc phải đợi hằng tuần, sau khi anh ta đi Huế mua thêm một số sách mới có chuyện đọc. Trước mặt nhà có con sông nhỏ, chiều chiều theo mấy bạn bè đi tắm ở đó. Một hôm có con thuyền nhỏ đậu cạnh nhà, chúng tôi leo lên thuyền và nhờ ông lái đò cho qua sông. Đến gần bên kia bờ sông, các bạn nhỏ tinh nghịch này nhảy xuống và xong đứng yên xem như chân mình đã chạm đáy sông. Tôi chưa biết bơi nhưng các bạn tinh nghịch này gọi tôi cứ nhảy xuống đi, tôi cứ tưởng là lòng sông không sâu nên cứ nhảy đại xuống, hỏng cẳng sắp bị chết đuối. May thay ông lái đò nhảy xuống kéo tôi lên. Khi trở về phía bờ bên nhà, nhảy nhanh xuống bờ, trợt chân gặp phải một phiến đá đánh vào cằm. Về đến nhà không thể dấu diếm được, Ba tôi thấy vậy, hỏi cho ra lẽ rồi cho tôi thêm một cái tát nữa, xem như tôi đã ngu xuẫn không biết bơi lại liều mạng nhảy xuống sông!
Vài năm sau vì tôi bị cảnh mồ côi, nên tôi được bà Cô đem vào Huế nuôi cho ăn học, ở tại đường Âm Hồn trong thành nội. Hồi còn học đệ nhất cấp tôi rất ham mê nuôi chim. Một hôm đang đứng ở trong vườn nhà, tôi thấy một con chim mới biết bay đậu ngay trên một cành cao của cây mít gần nhất. Mê leo đuổi theo con chim, khi leo đến một cành nhỏ tôi rơi từ đỉnh cây mít xuống, may mà rơi vào hàng rào cây dâm bụt không thì ít ra cũng bị gãy chân vỡ đầu. Ông dượng của tôi thấy vậy từ nhà chạy ra, thay vì hỏi han xem tôi có hề hấn gì không, ông lại bồi cho tôi thêm một cú đá, xem như tôi đã làm một điều ngu xuẫn, mà là ngu xuẫn thật. Nhớ những chuyện này, tôi thường tự hỏi sao phản ứng của ba tôi và ông dượng tôi kỳ lạ thế. Tại sao không an ủi, lo chăm sóc cho đứa trẻ bị tai nạn trước, rồi dạy bảo sau. Có phải chăng đó là phản ứng thường tình của người Việt Nam?
Hai năm học ở đệ nhị cấp tại trường quốc học Khải Định tôi không có những kỷ niệm đáng ghi nhớ ngoài những ngày hè nóng bức và những tháng mưa dầm dề suốt ngày này qua ngày kia, không có ao mưa nào chịu đựng nổi. Vào những trưa mùa hè tôi và một số bạn thi nhau bơi qua sông Hương hay ra sau sân trường đá banh, vào mùa mưa thì cùng nhau đạp xe đạp lang thang khắp các phố phường, xem như đó là môn thể thao, giải trí vì vừa đi vừa tà tà nói chuyện hoặc mơ mộng lung tung. Chắc các bạn còn nhớ hồi đó ai cũng mơ ước học một ngành gì đó sau khi đỗ tú tài, phần lớn mong thành bác sĩ, kỹ sư để rồi trở về Huế cưới vợ đẹp, đẻ con khôn. Riêng tôi, tôi mong sau này được có dịp học ngành lái tàu biển đi đường dài. Tôi mơ đến những chiều ngồi trên bong tàu ngắm nhìn mặt trời lặn dần, từ từ chìm dưới chân trời, hay lái con tàu trong cơn bão táp, mưa gió tơi bời, mơ đến những dịp viễn du đến những nơi xa lạ trên thế giới. Mộng đó không bao giờ thành hay đúng hơn là chỉ thực hiện được một phần, đó là phần viễn du, nay đây mai đó.
Sau khi đỗ bằng tú tài I, tôi được học bổng đi học ở University of the Philippines (UP) Los Banos, Philippines. Những năm tháng ở Phi, tôi ít nhớ nhà mà nhớ nhiều hình ảnh những hàng cây phượng đỏ trong khuôn viên của trường, nhất là hàng cây phượng trên con đường chia đôi trường Khải Định và trường Đồng Khánh. (Vào năm 1997 tôi có dịp về Huế, đem qua Phi được 5 cây phượng con, tôi trồng trên lề đường trước mặt nhà, 4 cây sống được và đúng 5 năm sau, vào mùa hè năm nay, tất cả 4 cây đều nở hoa. Nhìn vào những bông hoa phượng đó tôi thường nhớ đến cảnh cũ người xưa, cảnh cũ thì còn, nhưng người xưa nay phân tán khắp nơi trên thế giới). Trong các thầy ở trường Khải Định, có thầy Cao Hữu Triêm dạy sử địa là tôi nhớ mãi, có đặc điểm mỗi khi vào lớp thầy thường thảy cái bị đựng sách xuống bàn, tiếp tục câu mà thầy đã bỏ dở lần trước. Thầy Triêm khi tả cảnh thời tiết vào mùa đông ở miền Bắc thầy hay nói câu: Ôi trời mưa dầm dề, rét buốc thảm thê. Ngoài ra có thầy Phạm Văn Nhu dạy Pháp Văn. Hôm đó vào mùa mưa tôi đạp xe đạp đến trường có hơi trễ. Khổ nỗi là ngày đó tôi lại mang đôi giày cao cổ có bịt sắt. Khi đến lớp thầy Nhu đang hỏi bài, trong lớp im phăng phắc, tôi đi nhón nhén nhưng vẫn còn tiếng cộp cộp vào lớp, mọi cặp mắt đều nhìn vào tôi. Vừa ngồi xuống ghế và cố gắng thu mình nhỏ lại cho yên thân, thầy Nhu gọi tôi hỏi bài chia các động từ tiếng Pháp theo các thời gian khác nhau. Tôi đang còn bối rối về vụ đi trễ nên chia động từ không đúng. Các bạn ngồi quanh đó có vẻ lo ngại, thầy Nhu yên lặng một hồi rồi nhìn vào mắt tôi và nói: Sao mặt mũi có vẻ sáng sủa mà lại dốt đến vậy!
Trước khi sang học ở Phi, chúng tôi, gồm hai mươi người đã được may mắn chọn lựa từ những trường trung học khác nhau, đều phải học qua một lớp Anh ngữ tại Sài Gòn do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tổ chức. Lớp học thường vào buổi sáng, chiều chiều rảnh chúng tôi hay ngao du trên các đường phố Sài Gòn. Một hôm ông thầy người Mỹ dạy tiếng Anh ốm không đến lớp được. Một cô người Mỹ đến lớp báo cho chúng tôi biết vậy, cả lớp, đáng lẽ phải tỏ ra lo lắng, hỏi han đến sức khỏe của ông thầy, lại có vẻ vui mừng vì có dịp nghỉ học đi bát phố! Cô này rất ngạc nhiên, giận dữ và trách chúng tôi tại sao lại có thể mừng rỡ một cách vô ý thức như vậy. Đó cũng là bài học cho tôi vì người Việt Nam mình đôi khi có những phản ứng hơi kỳ lạ, không giống ai, chẳng hạn khi thấy ai đi xe đạp té xuống đường hay bị chó rượt đuổi, phản ứng đầu tiên là cười cái đã, phương Tây thật không hiểu nổi!
Qua Phi với cuộc sống sinh viên không có gì hấp dẫn, trong 4 năm (1954-1958) tôi chỉ lo học cho xong để về nước. Chỉ có điều là tôi rất hãnh diện có một căn bản vững chắc về toán học và vật lý học mà tôi đã học được ở trường Khải Định, ngoài ra lại được bạn bè, nhất là bạn Trần Văn Sơn hướng dẫn thêm. Ở đại học Phi, tôi xuất sắc trong các môn này và thường nhận xét sao phần lớn sinh viên Phi (sau này khi học ở Mỹ tôi cũng có nhận xét tương tự như vậy) dốt toán học đến thế. Hồi đó Trần Văn Sơn học cùng lớp nhưng khác phòng. Trong phòng tôi cũng có một tay giỏi toán khác là Tôn thất Côn. Tôi thường đi chơi với Côn. Ít khi thấy ngoài giờ học anh ta thi đua giải các bài toán ở cuối mỗi chương trong sách toán như các bạn khác, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên và thán phục là khi nào thầy Trương Quang Mục có câu hỏi nào hắc búa về toán, Côn là một trong ít học sinh dơ tay tình nguyện lên bảng giải. Hình như cái đầu toán học này là do thiên phú! Sau này Côn được học bổng học về kỹ thuật công trình nguyên tử (nuclear engineering) ở Canada, một điều rất tự nhiên. Một người bạn thân khác ngồi cạnh tôi ở hàng ghế thứ nhì sau hàng ghế dành cho các cô là Phan Ứng Nghiệm. Trong thời gian học ở Phi tôi có gặp lại Trần Văn Sơn hồi đó là thiếu úy hải quân, sĩ quan trên một chiến hạm của hải quân Việt Nam đang sửa chữa đại kỳ tại căn cứ hải quân Mỹ ở Subic Bay. Sơn có đến UP ở Los Banos thăm tôi. Tôi cũng có đến Subic Bay thăm Sơn và cùng đi tắm biển. Sau nhiều năm xa cách, trong những năm qua tôi may mắn có dịp gặp lại đâu đó các bạn Sơn, Côn, Nghiệm và một số các bạn khác trên quả đất tròn này.
Hồi đó học ở Khải Định tôi say mê theo đuổi một người đẹp thường mặt áo tím, một cô học trò xinh xắn với nụ cười hồn nhiên và quyến rũ. Đó là Đỗ Thị Lựu, em gái của bạn Đỗ Anh Tài. Con trai Huế khi bắt đầu biết yêu thường có những hành động khác hẳn với con trai xứ khác. Yêu ơi là yêu, nhưng ít khi mạnh dạn thổ lộ tâm tình. Chiều chiều đi học, đạp xe đạp theo người đẹp, thấy được mặt người đẹp, lượn qua lượn lại sao cho người đẹp thấy mình, thế là mãn nguyện, cảm thấy hạnh phúc rồi, hí hững đạp xe về nhà tiếp tục dở vở ra học, mơ mộng bâng qươ! Khi qua đến Phi tâm trí tôi luôn luôn hướng về cô Lựu ở Huế, không có lưu ý theo dõi các cô gái Phi. Nói chung thiếu nữ Việt Nam mình đẹp hơn các cô gái Phi nhiều, nhất là các cô gái Huế với những cặp mắt đen trữ tình, những khuôn mặt tươi thắm và mái tóc dài dưới những vành nón lá. Ở trường tôi học có rất nhiều hội nam hay nữ sinh viên (fraternities & sororities), cuối tuần nào cũng có tổ chức hội họp, nhảy đầm, đi chơi và ăn ngoài trời (picnic). Nhạc nhảy thịnh hành hồi đó là rock & roll do Elvis Presley hát (they call me a poor boy, poor boy, but I aint not lonesome and I aint blue cause I could never be a poor boy as long as Ive got a dolly like you ……….. dont have a pig, dont have a cow. I dont have a horse to pull a plow, but what I got is a heartful of love and memories, and thats enough for me), và điệu twist do Chuby Checker hát (come on lets twist again like we did last summer, yea, lets twist again like we did last year, …), cha cha cha và nhạc lãng mạn do Pat Boone hát (On a day like today, we pass the time away, writing love letters in the sand … ).Thanh niên Phi học chẳng ra gì nhưng chơi đàn và hát thì không thua ai. Có lẽ đó là cá tính của người dân ở đảo, tuy nghèo, có thể sống với những gì sẵn có dưới biển và các sản phẩm từ cây dừa, cứ tà tà đàn ca xướng hát, vui ngày nào hay ngày đó, có lẽ vậy nên đất nước không khá được, mức phát triển không có nhanh so với các nước trong vùng như Mã Lai Á, Thái Lan, Singapore, và ngay cả Việt Nam. (Tôi đã có lần phát biểu nhận xét này cho một bạn đồng nghiệp người Anh, anh ta hỏi lại tôi một câu làm tôi chưng hửng: Thế anh nghĩ sao về dân Anh và dân Nhật, cũng là dân ở đảo?!). Tôi tích cực tham gia các cuộc vui chơi này trong những năm học ở Phi, nhưng vẫn thường nhớ đến Huế, nhớ đến trường Khải Định và các bạn ở đó, và lẽ tất nhiên mộng đến người đẹp áo tím. (Trong các bạn học đồng lớp với chúng tôi hồi đó có Thu Ba. Sau này Thu Ba lập gia đình với anh Trương Đình Trân, một sinh viên xuất sắc của Khải Định, được học bổng Bảo Đại đi Mỹ học ngành vật lý nguyên tử. Hồi tôi còn học ở North Carolina (1960-62), anh Trân và Thu Ba học ở Cornell University, Ithaca, New York. Tôi có dịp gặp lại Thu Ba ở đó. Sau khi anh Trân đỗ bằng Ph. D. ở Cornell, anh được chọn để nghiên cứu thêm tại Institute of Advanced Studies thuộc Princeton University. Hồi đó Dr. Oppenheimer làm Viện trưởng Viện này. (Trong thế chiến thứ II, Dr. Oppenheimer là khoa học gia đầu đàn trong việc phát minh ra bom nguyên tử và khinh khí của Hoa Kỳ, nhưng vào những năm sau đó vì thấy thảm họa do các loại bom này gây ra cho nhân loại, ông không làm cho chính phủ Mỹ nữa và trở về Princeton dạy học.) Sau hai năm nghiên cứu ở Institute of Advanced Studies, anh Trân và Thu Ba rời nước Mỹ sang Pháp làm việc.
Trường nông nghiệp thuộc đại học Phi hồi đó có hợp đồng hợp tác với trường Cornell nên có nhiều giáo sư Mỹ sang dạy học và nghiên cứu ở UP (Los Banos), qua đấy và một số sinh viên Phi xuất sắc được cấp học bổng qua Cornell học. Một trong những giáo sư Phi có bằng Ph. D., giàu có, đẹp trai, học giỏi, xuất thân từ đại học Cornell, ngành agricultural engineering. Một hôm ông ta tổ chức cho một số sinh viên, trong đó có tôi về thăm đồn điền dừa của gia đình ông. Sau khi đi xe lửa từ trường đến ven biển, chúng tôi lên thuyền máy ra một hòn đảo gần đó. Khi đến hòn đảo ông đưa vòng tay chỉ và nói đây là hòn đảo đồn điền của gia đình ông. Ở Việt Nam tôi chưa thấy ai làm chủ quyền toàn bộ một hòn đảo. Tôi thật ngạc nhiên khi thấy đất nước Phi này đã theo chế độ tư bản quá mứt. Tôi kể chuyện này, có vẻ lạc đề, nhưng tôi cũng gặp trường hợp tương tự khi tôi học ở Mỹ mà tôi sẽ kể sau.
Dạy học và du học ở North Carolina
Trở lại chuyện cô Lựu. Sau khi đỗ ra trường, tôi và một anh bạn khác được bổ đi dạy học ở Bảo Lộc, thuộc tỉnh Lâm Đồng gần Đà Lạt. Hồi đó ở Bảo Lộc vừa thành lập trường nông nghiệp do USAID tài trợ. Đó là một thị trấn chưa được phát triển, chung quanh có những đồn điền trà của một số người Pháp còn nán lại làm ăn ở Việt Nam, xa hơn nữa chỉ thấy toàn là rừng. Đêm đêm tiếng vượn hú thêm vào tiếng kêu thảm thiết của một loài chim rừng nào đó, nghe thật buồn nản. Cái cảnh sống biệt lập và cô đơn này làm tôi càng nhớ đến Lựu và có ý định tiến tới việc lập gia đình với cô ta. Một trở ngại là cô Lựu thuộc gia đình Công giáo. Không giống ở Mỹ, tự do ai theo đạo nào thì theo. Ở Việt Nam muốn lấy vợ người Công giáo phải làm lễ cưới ở nhà thờ và phải theo đạo của họ. Vấn đề nan giải là gia đình tôi không muốn tôi bỏ đạo Phật. Thế là việc cưới hỏi không thể tiến tới, mối tình đầu của tôi xem như đành phải tan vỡ. Không biết nay người đẹp áo tím đang ở đâu. Hy vọng gia đình Lựu đã được định cư ở Mỹ.
Trong một chuyến về Huế thăm gia đình tôi có dịp đi chơi ở Đà Nẵng. Trên đường phố Đà Nẵng tôi đang đạp xe đạp lang thang một mình thì thấy ngược dòng hai ba cô con gái đang tươi cười nói chuyện ríu rít. Một trong những cô này có dáng người thật đẹp, mũi dọc dừa, bộ mặt trái xoan, mày mi cân đối, đẹp như một hoa hồng mới chớm nở. Tôi sững sốt đứng nhìn cô ta hoài và sau đó tìm hỏi mới biết tên người đẹp là Diệm My ở Huế.
Thế là bắt đầu một cuộc phiêu lưu tình cảm mới. Về Huế tôi tìm được nhà của Diệm My, mạnh dạn đến thăm. Theo đuổi Diệm My là cả một cuộc săn đuổi đầy trở ngại. Chị em Diệm My nổi tiếng đẹp ở Huế, không nhất thì nhì ở trường Đồng Khánh, nào là Trà My, Kiều My, Nga My, rồi đến Diệm My. Ba của Diệm My ở làng Chí Long không xa làng Hòa Viên, và cũng là quê của má tôi. Ba của nàng thích săn bắn, và thường đi săn nai ở các đồi vùng Mỹ Chánh. Hồi đó vùng đồi này còn là rừng sim có nhiều nai. Mỗi lần Ba của Diệm My cỡi ngựa đi săn từ Chí Long lên Mỹ Chánh hay ghé lại nhà tôi nghỉ ăn cơm trưa. Con ngựa quen thói, mỗi lần đến nhà tôi là không muốn đi nữa, tự động dừng lại. Không biết Ba của Diệm My và Má tôi có bà con gì không, có thể là những người cùng họ (Nguyễn) cùng làng, nhưng tôi vẫn thường gọi ông bằng Cậu và mỗi lần gặp các cô My, các cô gọi tôi bằng Chú. Thế là một vấn đề nan giải mỗi khi tôi đến thăm Diệm My, lúc bấy giờ gia đình cô ta đã tản cư từ Chí Long về Huế. Làm sao mà tán hay biểu lộ tâm tình với người đẹp, mình lại có tính e lệ của chàng trai xứ Huế, thường không muốn nói thẳng ra, chỉ nhìn người đẹp, ăn nói bâng qươ, nay lại gặp tình trạng có phần rắc rối hơn, vì mỗi khi mới bước vào cửa nhà là đã nghe Diệm My chào: Thưa chú!. Muốn đổi lời nói, cử chỉ giữa chú, cháu thành anh em đâu phải là điều dễ làm. Tôi tự nhiên kẹt vào mối tình một chiều, khó lòng tiến tới được. Đây chắc cũng là một hình phạt trời dành cho tôi, tự tạo khó khăn cho mình vì có tật đeo đuổi các cô gái đẹp ngây thơ, đang ở vào lứa tuổi học trò cấp trung học!
Vào năm 1960 tôi được học bổng qua Mỹ học tại North Carolina để lấy bằng Masters về thống kê học. Khi đến phi trường San Francisco, trong khi chờ đổi máy bay đi Raleigh, North Carolina, có một ông già người Phi trông có vẻ đạo mạo, ăn mặc chỉnh tề, có cả áo ấm khoác ngoài, lân la đến gợi chuyện. Lần đầu tiên đến đất Mỹ tôi đang ở trong tình trạng lẻ loi nên cũng thích nói chuyện với ông ta, nhất là khi ông ta biết trước kia tôi có học ở Phi nên câu chuyện càng thêm đậm đà. Ông cho biết ông là giáo sư về dân tộc học tại University of Minnesota. Ông nói ông sắp xuống phố San Francisco có việc và sẽ trở về trường trong vài hôm, nhưng không có tiền mặt sẵn để đi bus vì ông chỉ có chi phiếu du khách, muốn mượn tôi 5 đô la để về phố, khi nào về trường ông sẽ trả lại, và còn nói thêm ông sẽ gởi cho tôi một ít áo len ông không cần dùng nữa, vì ở North Carolina, theo lời ông, mùa đông lạnh lắm. Tôi thì không cần các món quà ông hứa, nhưng vì quen thói kính nễ thầy nên tôi không ngần ngại đưa cho ông ta mượn 5 đô la. Về đến trường, chừng một tháng sau, không thấy tin tức gì của ông giáo sư đại học Minnesota tôi viết thư hỏi thăm ông giáo sư và không đả động gì đến món tiền ông đã mượn. Chừng một tuần sau, bưu điện trả lại thư với dòng chữ ngoài phong bì là không có giáo sư nào tên này ở đại học! Đó là một bài học cho tôi và có lẽ cho những ai khi du hành là đừng tin những người mới gặp nhau lần đầu.
Trường tôi học ở Raleigh, North Carolina vào thời đó có một tên rất dài là North Carolina State College (NCSC) of the Consolidated University of North Carolina (UNC) ở Chapel Hill. Ở NCSC chỉ có các phân khoa kỹ thuật và nông nghiệp, ngay cả ngành thống kê học cũng chia hai phân khoa, các môn học về thống kê toán học (mathematical statistics) thì được dạy ở UNC, còn thống kê áp dụng (applied statistics) thì được dạy ở NCSC. Tuy lúc đó vẫn còn vào mùa hè nhưng trường vẫn mở một vài lớp học để sinh viên học hè. Việc đầu tiên là đến trình diện ông giáo sư cố vấn. Ông cho biết là muốn học ngành thống kê phải giỏi toán, và ông khuyên là vào dịp này nên học ôn lại Calculus và học thêm một lớp hình học. Ở trường lúc đó có hai lớp Calculus I và Calculus II. Thường thì phải học đạo hàm ở môn Calculus I trước rồi mới học đến nguyên hàm ở môn Calculus II thì phải. Ông không biết tôi có thể học hai lớp Calculus này một lượt được không, nhưng thử xem sao. Trong ba tháng hè nóng bức ở Raleigh, tối nào tôi cũng làm toán, cố gắng giải hết các bài toán trong các cuốn sách toán về Calculus và hình học. Chỉ có những buổi chiều cuối tuần tôi mới ra các quán gần trường uống bia bốc (draft beer) với các bạn học và cũng là dịp để tán dốc với các cô bán rượu bia, phần đông là nữ sinh viên ở trường làm thêm để kiếm ít tiền tiêu. Đa số sinh viên NCSC hồi đó là nam sinh viên [sau này bành trướng rộng lớn lên nên đã đổi thành North Carolina State University (NCSU)], trong gần 8,000 sinh viên chỉ có khoảng hơn 100 sinh viên nữ. Với tỉ số đó, cạnh tranh giữa đám sinh viên con trai để có một người bạn nữ sinh viên thật gay go, nhất là với sinh viên ngoại quốc như tôi bắt bồ không dễ dàng như các nam sinh viên Mỹ, lại không có xe hơi nên tôi đành phải dùng hết thì giờ và trí óc tập trung giải các bài toán. Rảnh ra thì viết thư thăm nhà, thỉnh thoảng gởi vài tấm bưu thiệp cho Diệm My, nhưng không bao giờ được hồi âm.
Tất cả ba bộ môn toán tôi đều được A. Khi đến gặp lại ông giáo sư cố vấn của tôi, vào phòng làm việc của ông, ông đứng dậy bắt tay tôi và nói: Cảnh, tôi có lời khen anh và tôi không hiểu làm sao anh có thể học hai môn Calculus cùng một lúc mà lại đều điểm hạng A. Ông không biết là tối nào tôi cũng làm toán đồng thời không biết tôi đã có một căn bản vững về toán từ trường Khải Định và những gì tôi đã học vẫn còn trong trí nhớ tôi. (Nói đến học toán ở Mỹ, tôi hồi đó có nhận xét rằng sách toán của Mỹ khác với sách toán của Pháp chúng ta thường dùng để học ở Khải Định. Những bài toán trong sách toán của Mỹ thường chỉ hỏi một hai câu, trong lúc một bài toán trong sách toán của Pháp thường đặt ra nhiều câu hỏi liên hệ nhau, phải giải được câu thứ nhất mới hòng giải được những câu kế tiếp, tạo cho sinh viên cách suy nghĩ có hệ thống và một đầu óc biết phân tích và tổng hợp. Có lẽ vì vậy mà ta thấy phần lớn sinh viên Mỹ thường có lối suy nghĩ rất đơn giản, không sâu sắc, chỉ chú tâm học hỏi, hiểu biết chi tiết vào một lĩnh vực nào đó nhưng ít có cái nhìn tổng thể).
Trong năm đầu của hai năm học để lấy bằng Masters, tôi ở cùng với các sinh viên khác trong một cư xá, hai người một phòng, có phòng tắm riêng. Cũng trên một tầng lầu tôi ở, có ba người từ ba xứ khác nhau, mỗi người tôi còn nhớ một câu chuyện: anh thứ nhất người Mỹ tên là William Reynolds Jr.. Anh ta con nhà tỉ phú William Reynold chủ những nông trại trồng thuốc lá ở quanh vùng Winston Salem, North Carolina, chủ hãng sản xuất hai loại thuốc Winston và Salem. Ông ta đã cho xây tặng cho NCS một tòa nhà đồ sộ, đặt tên là William Reynold Hall, để làm văn phòng với những phòng thể thao trang bị mọi dụng cụ cần thiết cho Phân Khoa Thể Dục và Thể Thao (Department of Physical Education). William Reynold Jr. là người con trai trong gia đình chịu khó học hết đại học, số còn lại chỉ thích ăn chơi hơn là học. Anh này học ở cấp dưới tôi, kém toán nên thường qua phòng tôi nhờ chỉ dẫn. Noel năm 1962 anh mời tôi và một số bạn khác đến nhà anh ở Salem ăn Noel. Sau khi đến chào bà già anh ở đó (ông già không có ở nhà vì một năm trước, trong một chuyến đi du thuyền qua châu Âu ông gặp và theo một cô người Đức trẻ đẹp nên đã mua cho cô ta một hòn đảo ngoài khơi thuộc tiểu bang Georgia, xây nhà làm tổ uyên ương) chúng tôi đến ở một nhà khác của gia đình đại tư bản này, được xây trong một nông trại thuốc lá với hàng trăm ngàn mẫu đất. Nhà có 12 phòng ngủ, tụi tôi tha hồ muốn ở phòng nào thì ở. Gần nhà có một hồ nhân tạo để câu cá và cũng làm luôn hồ tắm, cạnh đó lại có một cái hồ thiên nhiên đủ rộng để trượt nước (water skiing). Có một buổi chiều trời vừa tối anh ta và tôi dùng xe Jeep chạy quanh trại. Lần đầu tiên tôi thấy nai chạy khắp nơi và cũng là lần đầu tiên tôi biết ở Mỹ người ta chỉ săn thú theo mùa, chứ không phải khi nào săn cũng được. Xa tận chân trời một dãy núi hiện ra trong cảnh sương mù, anh ta chỉ vào dãy núi và bảo tôi: Cảnh, gia đình tôi cũng làm chủ dãy núi đó!. Tôi từ Việt Nam đến, ở một nước mà mình thường cho rằng núi non, sông ngòi, biển cả là của chung không ai có chủ quyền những bất động sản này. Tôi đã từng ngạc nhiên khi nghe ông giáo sư người Phi nói gia đình ông làm chủ cả hòn đảo, nay ở Mỹ có gia đình không những là chủ của những nông trại lớn mà cả dãy núi trải dài khắp chân trời. Thật là một nước mà tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến mức kỳ lạ.
Anh thứ hai người Phi tên là Dewey Dee, anh ta đến NCSC học về ngành dệt (textile engineering). Anh này cũng con nhà giàu, phòng ở của anh có TV mở suốt ngày. Tui tôi khi nào muốn xem TV cứ việc vào phòng anh xem tự do. Anh ta có chiếc xe con và cũng là một tay chơi nên đào Mỹ khá nhiều. Gần trường chúng tôi có một trường chỉ dành cho phái nữ, không có xe hơi thì như cụt chân, có đào cũng không đi đâu được, dẫn người đẹp đi chơi bằng xe bus thì không giống ai! Năm 1978 ở Sài Gòn nhân đọc báo Newsweek, tôi thấy có bài nói về anh. Sau khi học xong, Deway Dee về làm ăn ở Phi, biển thủ các ngân hàng ở đây hơn 30 triệu đô la và chạy trốn sang Dominican Republic, một nước Nam Mỹ, sau đó lại được định cư ở Canada. Năm nay (2002) tôi đọc báo lại thấy tên anh ta xuất hiện, chính phủ Phi đang yêu cầu chính phủ Canada trục xuất anh ta trở về Phi hầu tòa. Đến nay anh ta vẫn còn ở Canada.
Anh thứ ba người Mễ Tây Cơ, tôi chỉ còn nhớ tên Rodriguez, cũng học về ngành dệt. Vào năm 1961, sau một năm học ở NCSC tôi có dịp đi Mexixo để dự phiên họp hằng năm của các nhà kinh tế nông nghiệp do International Association of Agricultural Economists tổ chức ở thành phố Cuernavaca, một thành phố rất đẹp ở gần thành phố Mexico. Tôi có dịp thăm viếng Mexico University, một trường đại học được xây cất một cách đồ sộ vì trước đó mấy năm Mexico nhân dịp tổ chức thế vận hội đã xây ngay trong khuôn viên đại học một số sân vận động, hồ tắm, khu nhà tập thể, v.v…, nay dành cho sinh viên xử dụng. Kiến trúc của các nhà cao tầng dành cho các phân khoa trông thật là tân tiến, tường nào cũng có hình chạm phản ảnh nền văn hoá lâu đời của Mexico. Đứng nhìn những bức tranh tường vĩ đại, những tác phẩm điêu khắc rải rác trong khuôn viên đại học, thấy những phương tiện mà sinh viên Mexico được hưởng, làm tôi tự hỏi khi nào Việt Nam mình có một trường đại học tráng lệ huy hoàng như vậy. Nay trở lại chuyện Rodriguez. Tôi điện thoại thăm anh ta, lúc đó đang về thăm gia đình ở đó. Anh ta mời tôi trưa hôm sau đến ăn cơm để anh giới thiệu gia đình anh luôn thể. Sáng hôm sau dậy sớm, để bụng không ăn sáng, tôi đi taxi đến thăm bạn. Gia đình của Rodriguez ở trong một villa sang trọng, vườn tược rất đẹp mắt và xây cất trong một vùng dành cho người có tiền có của. Đến nhà chỉ có Rodriguez và ông già của anh ta ra tiếp chuyện. Đợi đến trưa, bụng thấy đói, nhưng không thấy bạn đả động gì đến cơm nước. Một giờ trưa, cũng không thấy một dấu hiêu chuẩn bị gì nơi phòng ăn cạnh phòng khách. Tôi quá đói bụng, muốn chào từ giả mà không dám nói, phân vân không biết hôm trước mình có hiểu lầm lời mời của bạn không? Đến gần 3 giờ chiều Rodriguez và ông già mới mời tôi qua phòng ăn. Trong phòng ăn, mẹ và anh chị em của Rodriguez tề tựu đông đủ. Tôi được thưởng thức một bữa cơm nấu theo kiểu Y Pha Nho đặt đầy bàn ăn. Sau đó tôi mới biết dân dưới đó (và có lẽ ở Y Pha Nho cũng vậy?) họ ăn cơm trưa rất trễ. Đó cũng là bài học. Đến đâu cũng nên tìm hiểu phong tục và tập quán của nơi mình đến.
Học hết năm thứ nhất của chương trình Masters, thành quả khá tốt. Các môn chính như toán, thống kê, kinh toán học tôi đều được A. Tâm trí tôi lúc đó đều dồn vào việc học, tối nào cũng chúi đầu vào sách vở, không có thú tiêu khiển nào khác hơn là đọc giáo khoa và làm toán. Xa nhà, xa nước, với lối sống và thức ăn không quen thuộc, có lúc tôi thấy thật lẻ loi, buồn nản. Lại càng buồn hơn khi nghĩ đến mối tình một chiều của mình với Diệm My, xem như đang đi vào ngõ cụt. Một niềm an ủi độc nhất vào khoảng thời gian đó là có một gia đình người Mỹ ở gần trường đứng ra làm gia đình chủ nhà (host family) cho tôi. Gia đình này thường mời tôi về nhà ăn cơm để biết thêm về đời sống Mỹ, tham dự những buổi ăn cơm ngoài trời, hay dẫn tôi đi đây đó xem những thắng cảnh của địa phương. Nhân dịp này tôi mới biết nguồn gốc của chương trình host family này. Trước khi cộng sản chiếm toàn bộ Trung Hoa lục địa, có nhiều sinh viên và giáo sư Tàu (quốc gia) ở Mỹ, trong đó có một số học về nguyên tử và hỏa tiễn. Đến khi chính phủ cộng sản lên cầm quyền, họ kêu gọi các khoa học gia và kỹ sư Tàu về nước phục vụ.Rất nhiều bác học, kỹ sư Trung quốc đáp lời mời của tân chính phủ ồ ạt về giúp nước. Chính phủ và nhân dân Mỹ ngạc nhiên tại sao những người này đều được chính phủ Mỹ hay các tổ chức tư nhân Mỹ cho tiền ăn học, nay không một chút thiết tha muốn sống và làm việc ở Mỹ. Do đó chính phủ Mỹ nghĩ đến chương trình host family, vận động sự hợp tác có tính cách tự nguyện của những gia đình Mỹ gần đại học, nhận lãnh sinh viên ngoại quốc, thỉnh thoảng đem về nhà, mong tạo thêm sự gần gũi để họ bớt thấy lạc lõng nơi đất khách quê người. Chương trình này không có tính cách bắt buộc đối với sinh viên nước ngoài. Ai không muốn có host family thì cũng tốt thôi.
Sinh viên có học bổng như tôi tương đối có đời sống vật chất thoải mái, không như một số sinh viên khác, ngoại quốc cũng như Mỹ, vừa đi học, vừa đi làm, có phần vất vã. Tôi ít quan tâm đến tình hình chính trị tại Việt Nam. Đất nước lúc đó có vẻ thanh bình, một thứ thanh bình giả tạo vì hai bên Nam Bắc đang sửa soạn và trù tính một cuộc chiến tranh lâu dài. Khoảng tháng 9 năm 1960, Thượng nghị sĩ John F. Kennedy, trong vòng vận động tranh cử tổng thống đến đọc diễn văn ở NCSC có đề cập đến tình hình và vị trí chiến lược của Nam Việt Nam, xem đó là một tiền đồn của Mỹ ở Đông Nam Á. Kennedy cũng nói đến tình hình không ổn định tại Đông Dương và tình hình sôi động ở Lào do Pathet Lào gây ra.
Tuy ít nghĩ về đất nước, quê hương, nhưng thỉnh thoảng nhớ Diệm My gia diết. Buồn và nản nhất là khoản thời gian từ thu sang đông, cây cối trụi lá, cô đơn lê bước trên các đường trong khuôn viên đại học, mong sao cho thời gian trôi mau để sớm về nước. Tinh thần tôi càng xuống dốc những khi tuyết bắt đầu rơi, trời đất sao âm u đến thế! Vào những hôm như vậy tôi ao ước có một cô bạn gái để trao đổi tâm tình, để có dịp hôn vào gò má dịu dàng và làn môi nóng bỏng, hay để thưởng thức sự ôm ấp nhiệt tình, sự sờ mó của cơ thể, đụng chạm của xác thịt với một người khác phái. May cho tôi, vào đầu năm học thứ hai (1961-1962) tôi có dịp làm quen với một nữ sinh viên cùng trường. Tôi gặp cô trong một buổi nhảy đầm do nhà trường tổ chức cho sinh viên ngoại quốc. Trước khi vào phòng nhảy phải mua vé, tôi thấy một cô nữ sinh viên da trắng phụ trách bán vé, dáng người nhỏ gọn, mặt tròn hiền hậu, làn da trắng mướt với đôi mắt xanh, tóc vàng cắt ngắn, nhìn tôi cười một cách thản nhiên đầy bí ẩn. Thế là tim của anh sinh viên xứ Huế bắt đầu đập, cảm thấy đây là cơ hội hiếm có để làm quen với người đẹp, hy vọng biết đâu sau này lại có một cuộc phiêu lưu tình cảm mới. Sau khi bán vé xong cô ta cũng vào phòng nhảy để tham gia cuộc vui. Lẽ tất nhiên tôi kiếm cách làm quen và mời cô ta nhảy. Cô tên là Francis Land, 20 tuổi, trẻ hơn tôi chừng 5 tuổi, học năm thứ hai ngành sinh vật học. Tình trạng gia đình giống tôi. Mồ côi từ nhỏ, được một bà cô nuôi cho ăn học. Có lẽ vì vậy chúng tôi dễ thông cảm với nhau chăng? Dần dà hỏi thêm mới rõ cô ta là Mỹ chính cống, ở ngay tiểu bang North Carolina, tại một thành phố nhỏ không xa thành phố Raleigh. Hôm đó, tôi chỉ nhảy với Francis được vài bản và thu thập được chừng đó dữ kiện, vì người đẹp được các sinh viên khác mời nhảy rồi biến đâu mất.
Vài hôm sau tôi quyết tâm tìm Francis Land. Tôi rất muốn gặp lại Francis, nhưng hôm nhảy, vì e ngại (lại cái tính của anh chàng trai xứ Huế hay bẽn lẽn và ngại ngùng không muốn hỏi ngay những câu hỏi cần thiết lúc mới gặp ban đầu) tôi không biết làm sao gặp lại được, nay biết em ở đâu mà tìm trong cái trường đại học rộng mênh mông đó. NCSC vào năm 1960 vừa xây xong một đại học xá kiến trúc theo kiểu cao ốc, chia làm hai cánh, nam sinh viên ở West Wing, nữ sinh viên ở East Wing. Tôi lần mò đến đến East Wing tìm, nhưng được cho biết không có ai tên Francis ở đó. (Nhân đây tôi cũng muốn nói đến lối sống của sinh viên Mỹ. Năm 1966, tức 4 năm sau khi tôi tốt nghiệp, trong khi tham dự lớp học 3 tháng tại viện Phát Triển Kinh Tế của Ngân Hàng Thế Giới [World Bank (WB)] tổ chức ở Washington D.C., tôi có dịp trở lại thăm trường cũ. Sinh viên nam nữ nay có thể ở chung trong cùng một Wing, nhưng phải ở khác từng lầu. Đến năm 1972 tôi lại có dịp đến NCSC, được biết sinh viên nam nữ có thể ở chung một tầng, nhưng phải ở phòng khác nhau. Ngày nay tiến tới thêm một bước nữa, tức là sinh viên ghi tên nội trú nam nữ có thể ghi chung phòng nếu muốn! Quan hệ trai gái ở Mỹ thay đổi quá nhanh làm cho người Việt Nam mình chạy theo không kịp, có lẽ đây cũng là một vấn đề mà một số gia đình của các anh chị ở Mỹ đang gặp phải, do sự va chạm giữa một xã hội quá tự do và một nếp sống cổ truyền).
Sau gần cả tháng tìm người đẹp, hy vọng trở thành vô vọng. Anh bạn ở cùng căn nhà với tôi là Davis Bruck (sau khi ở cư xá một năm tôi và Davis, sinh viên Mỹ đang theo chương trình Ph. D. về vi trùng học, ra thuê một căn nhà nhỏ ở gần trường. David đã có lần, có lẽ muốn tôi có một cái nhìn toàn diện về xã hội Mỹ, đã lái xe cho tôi qua một vùng dân da đen ở gần Raleigh. Nhà cửa của họ thật tồi tàn, đường sá đầy ổ gà, dơ bẩn. Dân đen nhà cửa chẳng ra gì nhưng lại mua xe mắc tiền như Cadillac chẳng hạn, một phần vì họ thích như vậy, nhưng một phần, theo David, do ngân hàng Mỹ có chính sách dành mọi dễ dãi khi dân da đen vay tiền mua xe, nhưng lại rất khó khăn khi họ đến vay tiền để làm ăn. Davis Bruck nay là giáo sư tại New Yowrk State University) giúp ý kiến là nên điện thoại hỏi Văn Phòng Sinh viên Vụ (Office of Students affairs), may ra họ có thể cho biết tin tức của cô này. Nhờ đó tôi biết địa chỉ và điện thoại của Francis Land. Sau khi quen biết người đẹp tôi thấy đời đẹp trở lại, bớt cô đơn, nhưng đó cũng là năm tôi không còn hoàn toàn có điểm A như trước. Một vài môn có điểm B, thậm chí có môn toán thống kê (mathematical statistics) lại bị điểm C. Nhưng không sao vì đây là lần đầu tiên trong đời gặp được một người đẹp đầy thông cảm và thành thật, cùng nhau đeo đuổi một mối tình hơi lãng mạn, một mối tình dịu dàng và hai chiều. Chúng tôi được sống trong một khung cảnh đầy tự do để trao đổi tâm tình, không bị những trở ngại vì khác biệt về tôn giáo hay vì nếp sống bảo thủ như tôi từng gặp tại Việt Nam. Từ ngày tôi quen biết với Francis cho tới ngày tôi về nước, tôi đã có biết bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp và nồng nàn với cô ta mà tôi khó lòng quên được.
Chúng tôi thường đi ăn cơm trưa với nhau, cuối tuần thì theo bạn bè đi picnic những vùng quanh trường, đến thăm trường UNC ở Chapel Hill và Duke University gần đó. (Duke University là một trong những trường danh tiếng của Hoa Kỳ, có một khuôn viên xây cất bằng thép kiến trúc kiểu Gothic thiết kế thật hài hòa hấp dẫn). Đến lễ Phục Sinh chúng tôi xuống Fort Lauderdale ở Florida tắm biển (vào dịp này hằng ngàn sinh viên nam nữ từ các đại học miền Bắc kéo xuống để nghỉ xả hơi, uống bia, tắm biển, vui nhộn).
Một hôm vào dầu thu năm 1961 tôi đang ngồi học trong phòng học tại phân khoa thống kê thì Francis đến rũ đi ăn cơm trưa. Tôi định dẫn cô nàng ra quán ăn ở trước mặt trường như tôi thường làm, nhưng Francis bảo đã mua thức ăn sẵn và đề nghị chúng tôi ra công viên trường vừa ăn vừa thưởng thức phong cảnh mùa thu. Trời hôm đó lành lạnh, gió thổi nhẹ qua những hàng cây lá đang đổi màu muôn vẻ. Nhìn vào đôi mắt xanh và mái tóc vàng của Francis tôi ước mong thời gian ngưng lại cho tôi giữ được mãi khuôn mặt hiền hậu và đáng yêu đó. Chúng tôi cùng nhau đi ra công viên ở ngay giữa khu đại học, ngồi gần vòi nước phun lên cao óng ánh theo tia nắng mặt trời, tay cầm tay không nói nên lời nhưng cảm thấy thật là hạnh phúc trong khung cảnh hữu tình đó. Vào giờ ăn trưa nên có nhiều xe cộ của sinh viên và giáo sư chạy quanh qua công viên trên đường ra phố, nhìn thấy chỉ có hai chúng tôi ngồi chịu lạnh ở đó, họ bóp còi inh ỏi. Francis cứ tỉnh bơ không để ý đến ngoại cảnh, trong khi chàng trai xứ Huế trong tôi làm tôi bẽn lẽn ngượng ngùng chỉ muốn trở ngay về phòng học.
Cũng mùa thu năm đó, nhân vào dịp nghỉ hè dài ngày, chúng tôi thuê xe đi cắm trại trên vùng Smoky Mountains National Park ở Tennessee. Vùøng này nổi tiếng đẹp về mùa thu. Hai bên đường dọc theo xa lộ 40, cảnh vật sao mà kỳ diệu đến thế. Không khí trong lành mát rượi, cây lá trùng trùng điệp điệp, thi nhau đổi màu khắp nơi. Những tia nắng thông qua các cây cao chiếu nghiên nghiên xuống trên dòng suối nước trong vắt chảy dọc theo xa lộ, làm cho phong cảnh thêm phần hấp dẫn và hữu tình. Tôi còn nhớ khi lái xe qua khỏi thành phố Asheville, đến một thung lủng chỉ có mấy mái nhà chìm đắm trong màu sắc rực rỡ của mùa thu, một khung cảnh thật là quyến rũ, làm tôi thầm nghĩ đời sẽ hạnh phúc biết bao nếu sau này Francis và tôi được về sống trong thung lũng này. Tôi ngừng xe lại chụp một bức hình ghi đúng được cảnh vật lúc đó, có thể nói là diễn tả được cảm giác hạnh phúc tràn trề của người chụp hình. Sau khi về trường, nhân dịp Hội nhiếp ảnh (Camera Club) của trường triển lãm, tấm hình tôi chụp hôm đó được xếp vào hạng nhất. Hiện tôi còn giữ tấm hình, được đóng khung và treo trong phòng của tôi tại nhà ở Phi. Tối lại chúng tôi cắm trại ngủ trong thung lũng đó. Đang ngủ mơ mơ màng màng tôi nghe tiếng cào sột soạt ở ngoài lều. Francis ra dấu tôi nên yên lặng và nói nhỏ là có mấy con gấu ở ngoài đó, nghe mùi thức ăn nên bén mảng tới gần, may thay chỉ vài phút sau đám gấu nghe có tiếng người nên bỏ đi mất. Sáng hôm sau chúng tôi lái xe đến tận đỉnh núi Smoky, nơi cao điểm nên có nhiều du khách khác đến đó chụp hình hay đứng nhìn xuống những đồi núi đầy màu sắc ở dưới. Đó cũng là nơi tôi thấy một nhóm người dân Mỹ da dỏ mặc y phục theo lối cổ truyền của dân tộc họ, đi đi lại lại để du khách chụp hình và kiếm một ít tiền. Tôi đang nhìn một ông da đỏ, tướng tá bự con, cái băng trên đầu gắn đầy lông thú, khệnh khạng đến gần tôi. Anh ta cầm tay tôi, tách rời Francis ra và dẫn tôi đến một gốc cây gần đó. Với một giọng ồ ồ, ông ta hỏi: Anh thuộc bộ lạc nào? Tôi chưng hửng, không biết trả lời sao, định mở miệng nói đùa thuộc bộ lạc Apaches hay Coamchos gì đó, nhưng nghĩ sao tôi trả lời: Tôi thuộc bộ lạc Việt Nam. Anh ta gật đầu, nhưng cũng chưng hửng như tôi và chỉ nói được hai tiếng Ah! ah! rồi bỏ đi mất. Francis không hiểu chúng tôi đã nói gì với nhau trông có vẻ bí mật, nghe tôi kể lại chuyện cô ta cười ngất, nói diễu: Cảnh, tôi nghĩ anh nên tìm cách ở lại Mỹ, sau này vào được dân Mỹ rồi thì sẽ trở lại đây để hội nhập vào cái bộ lạc dân da đỏ này!
Hình như tôi có số đồng cảm với người da đỏ ở Mỹ. Từ năm 1985 sau khi làm việc ở Ngân Hàng Phát Triển Á Châu [Asian Development Bank (ADB)], năm nào tôi cũng có dịp qua Mỹ, có khi công tác ở WB liên hệ đến các dự án viện trợ cho Pakistan do tôi phụ trách, có khi qua thăm hai đứa con gái, thăm bạn bè hay bà con bên đó. Cách đây mấy năm, sau khi nghỉ hưu, tôi đi một vòng Lake Tahoe, Reno và Las Vegas. Nơi nào tôi cũng có ghé sòng bạc kéo máy, hay đánh xì lát để thử thời vận. Tôi biết cờ bạc phần thua nhiều hơn phần ăn nên tự giới hạn mỗi lần thua $250 thôi, sau đó kiếm gì ăn rồi đi bát phố rồi về Sacramento, nhà của chị tôi và anh rễ. Ở Sacramento hoài cũng chán, lần đó tôi lấy máy bay đi Tucson thăm một người anh họ. Ở Tucson có một casino do chính phủ liên bang cho phép các bộ lạc da đỏ gần đó mở. Một hôm tôi và một anh bạn vào casino chơi. Trong chuyến đi trước tôi đã thua $750 ở ba nơi nên hơi ớn khi nghĩ đến chuyện may rủi. Bước vào casino tôi thấy nhiều người Việt đánh bạc ở đó, tự nhiên tôi có ý nghĩ người da đỏ có cảm tình với tôi biết đâu lần này là vận may. Nghĩ vậy tôi bỏ ra $20 kéo máy. Máy tôi chơi gọi là máy kẻ cướp một cánh tay (one-arm bandit) chơi chưa đầy nửa phút nó đã nuốt trôi của tôi $10. Tôi ngừng lại đứng dậy đi quanh trong casino tìm người bạn kéo dài thời gian… sạch túi. Gặp anh ta đang ngồi kéo máy và anh ta cho biết cũng không khá lắm. Cạnh chỗ anh ngồi có một ghế trống. Tôi ngồi xuống, vừa nói chuyện vừa lơ đễnh đút một đồng vào cái máy trước mặt tôi rồi kéo. Tôi chờ tiếng kêu rào rào của máy kéo sau đó là báo hiệu đút đồng tiền khác nếu muốn chơi tiếp. Nhưng kìa! tôi không nghe tiếng gì cả. Bỗng người bạn tôi la lớn: Cảnh, anh trúng to rồi! Nhìn lên thấy bóng đèn trên máy chớp sáng, và một nhân viên người da đỏ đến báo cho tôi biết tôi trúng $1000 mỹ kim. Đúng là duyên da đỏ, chẳng những gỡ được tiền thua $750 lại còn lời được $250.
Vào những ngày nghỉ lớn, khu đại học thường vắng vẻ, sinh viên Mỹ phần lớn về nhà, mọi hoạt động nhộn nhịp, những tiếng cười tiếng nói hồn nhiên của đám sinh viên bỗng nhiên ngừng hẳn. Tuần lễ trước hôm Noel năm 1961 tôi cảm thấy thật cô đơn và buồn nản, người bạn ở cùng nhà đã về New York ăn Noel với gia đình, Francis cũng đã đi, chiều chiều một mình tôi lê bước quanh trường đại học nhìn tuyết bay nhẹ như nhung trên những cành cây không lá hay bay bay xoay quanh những cột điện được trang trí đèn Noel đủ màu đủ dáng. Tôi nhớ Francis quá nên điện thoại cô ta để bày tỏ nổi lòng trống trải của mình. Tôi rất ngạc nhiên nhưng rất cảm động và mừng rỡ khi cô ta bảo tôi đừng đi đâu cả, hôm sau cô sẽ trở về trường ăn Noel với tôi. Thế là chúng tôi có cả một tuần để cùng nhau trao đổi tâm tình trong khung cảnh một mùa Noel đầy ấm cúng và yên tĩnh. Quyết định của Francis trở về trường ăn Noel với tôi không những làm tôi thấy yêu đời hơn thêm mà đó cũng là dấu hiệu của tình cảm sâu đậm của Francis dành cho tôi. Có những hành động khác, tuy có vẻ bình thường, nhưng đã làm cho anh xứ Huế cảm động và quí mến cô ta hơn, chẳng hạn như tự mình cô ta nấu phở theo đúng khẩu vị, hay có những lúc trời lạnh chúng tôi đi ăn ở các quán gần trường, ăn xong, trước khi rời của tiệm, cô ta thường đi kiếm cái áo choàng của tôi treo gần cửa ra vào để choàng vào người tôi, hay khi đi xem những buổi trình diễn nhạc kịch ở trường, cô ta thường xách theo một bình thủy để có sẵn cà phê nóng cho tôi uống.Đến giữa năm 1962, thấy ngày ra trường gần kề, và cũng là ngày tôi phải xa Francis về nước, tôi kiếm cách trì hoãn ở lại Mỹ thêm vài ba năm nữa để được gần nàng. Tôi viết đơn xin học bổng của Rockefeller Foundation, hy vọng họ sẽ cấp học bổng tiếp để học lấy cấp bằng Ph.D. Tôi cũng có ý đổi ngành, học trở lại ngành kinh tế nông nghiệp như tôi đã học chuyên ngành ở UP, vì tôi thấy ngành này dễ kiếm việc hơn, ngoài ra còn một lý do là lấy cho được cái bằng Ph.D. về thống kê không phải là dễ. Tiếc thay, Rockefeller Foundation trả lời khuyên tôi nên về nước làm việc trong vài ba năm để có thêm kinh nghiệm, họ sẽ xét việc cấp học bổng sau. Chuyện gì đến rồi cũng phải đến, cuối cùng tôi cũng phải chia tay với Francis và giả từ Mỹ quốc. Ngày tiễn biệt, Francis ra ga xe lửa đưa tôi, cả hai bịn rịn chẳng nói nên lời, nước mắt chảy vòng mi. Khi đó tôi thấy thấm thiá câu thơ của một thi sĩ nào đó trong sách quốc văn giáo khoa thư tôi thuộc lòng từ hồi còn thơ ấu, ôi cảnh biệt li sao mà buồn vậy! Xe lửa đưa tôi từ Raleigh đến Union Station ở Washington D.C., từ đó tôi bay đi San Francisco trên đường về Sài Gòn. Francis dặn tôi về Việt Nam viết thư cho cô và hẹn có ngày cô sẽ sang Việt Nam thăm. Về đến Sài Gòn sao tôi thấy thật nghìn trùng xa cách. Tôi do dự mãi không muốn viết thư cho Francis. Tôi trở về tuy có việc làm ngay, nhưng với số lương chỉ đủ nuôi thân, chưa thuê nổi một căn phố hay phòng riêng để ở thì làm sao tiếp đón người yêu nếu cô đến Sài Gòn. Mặc khác tôi suy nghĩ và tự kết luận rằng mối tình tuy ngắn nhưng đẹp đó kết cuộc rồi sẽ không đi tới đâu, kéo dài chỉ làm cho hai người thêm khổ. Có lẽ vì mình học ban B, đầu óc khi nào cũng lý luận, thường suy nghĩ quá nhiều trước khi hành động. Mỗi khi nhớ lại chuyện tình này tôi thấy mình thật là cà chớn, phụ tình vì không dám hành động theo tình cảm của con người. Nếu hồi đó tôi học ban C biết đâu tâm hồn và cá tính của mình khác và mình đã hành động tự nhiên và linh động hơn, như vài bạn học ban C, không cần phải chần chờ cân nhắc, cứ viết thư và làm thơ gởi cho người đẹp, ra sao thì ra, cuộc đời như vậy có đẹp và thi vị hơn không?! Chừng hai năm sau, một người bạn học cùng trường viết thư cho tôi biết Francis đã đi lấy chồng. Tôi thường tự an ủi: Tình chỉ đẹp khi còn tan vỡ.!

(còn nữa)

Truyện Ngắn:
Buổi Tối Trong Làng Om-Xà-No
Nguyễn Thị Long An

——————————————————————————–

Mặt trời chếch về hướng Tây. Nắng nửa chiều nghiêng lả lướt trên đôi bờ kinh Vĩnh Tế. Ánh sáng hanh vàng phủ lên cánh đồng lạ lẫm cỏ cháy đất khô, rải rác mấy cây thốt nốt già cao lêu nghêu đưa ngọn. Mặt nước phía trước đầu ghe trầm lặng chảy xuôi bỗng nhăn nhúm bởi mũi ghe lao tới và tiếng máy nổ lạch tạch đều đều vọng vào hàng cây xanh xa xôi mất biệt.

Chị Sol mở những phần bánh mì mua khi sáng bày trên khoang, mời mọi người dùng bữa. Nhìn những khúc bánh mì cứng ngắt, nghĩ bà ngoại sẽ không ăn được, Kim bối rối ngó bà rồi ngó chị Sol, sắp sửa mở miệng yêu cầu một thức ăn khác thì người chủ ghe tốt bụng đã đem ra đưa bà ngoại chén cơm còn lên khói và cái dĩa nhỏ có khoanh cá lóc kho khô.

Bữa cơm trưa xong xuôi, dọn dẹp trên sàn khoang sạch sẽ, ba người đàn bà gầy sòng tứ sắc giao hữu. Mời ngoại tham dự, bà từ chối, lặng lẽ lấy trầu cau ra ngoáy trong khi Nga và Tân hớn hở xúm xít ngồi sát sòng. Một chút nhộn nhịp lóe lên trong ghe. Tiếng cười vang vang, tiếng bạc cắc khua long-cong khi có người được tới. Sự ồn ào nổi dậy từ trong ghe bay tạt ra phía ngoài nhòa nhập cùng vùng không khí tĩnh mịch buổi xế trưa. Thỉnh thoảng, một chiếc ghe máy từ phía đối diện chạy qua, hai dòng nước gặp nhau gây thành con sóng lớn rào rạt vượt vào bờ.

Ðã hơn bốn giờ đồng hồ, ghe lầm lũi đi theo hướng mặt trời lặn. Kim bò đến ngồi sát cửa sổ, thọc tay khuấy đừa giỡn nước. Luồng nước mát ngấm vào lòng bàn tay, một chút sảng khoái nhè nhẹ dấy lên trong hồn. Vừa khỏa nước vừa mơ màng dòm bà ngoại tư lự chậm rãi đưa miếng trầu vào miệng, mắt hướng ra phía ngoài, tưởng bà như một khách lạ ở hành tinh nào đến nhàn du trái đất, ngồi đó như cố tìm kiếm hình ảnh trong bụi cây đám cỏ loáng thoáng lùi lại đàng sau bóng dáng của một quá khứ nào đã khuất.

Trời bỗng nổi gió. Từng loạt lá vàng từ những cành cây khô, những vùng bụi từ hai bên bờ bốc lên cuồn cuộn đổ xuống mặt sông vắng trơ vơ chiếc ghe nhỏ chồng chềnh của cơn mưa sắp sửa chuyển mình với buổi chiều đột ngột tối sầm như một điềm báo tin giờ tận thế. Ghe lao đao sấn tới khoảng sông phía trước, xông pha giữa vòm trời tối tăm cùng tiếng vọng từ xa của sấm sét, đồng thời mưa ào ào đổ xuống và màn nước trắng xám đặc phủ trùm trên mặt nước như muốn nhận chìm chiếc thuyền nhỏ khẩm lừ trồi lên hụp xuống giữa dòng. Hàng hàng lớp lớp hột nước tuôn xuống mui ghe, phủ lên mặt kinh những chùm bọt trắng nối tiếp nhảy đùa trên mạt sóng rồi chìm sâu vào phía dưới. Trong cơn mưa giăng mờ, ghe phải đậu lại núp dưới một cụm cây lạ mọc cạnh bờ.

Ngồi trong mui rướn nhìn qua kẽ hở của lá cành, hy vọng tìm thấy những gì quen thuộc nhưng tuyệt nhiên không có gì chờ đợi trong khoảng đất sắp liều thân tìm đến. Trong một thoáng, linh cảm nhạy bén hiện ra trong trí vòm trời tối tăm trước mặt nhiều sự hiểm nguy chực chờ bắt đầu từng phút giây nầy. Tự hỏi, tại sao đã biết, đã nhìn thấy rõ ràng mà vẫn băng mình tiến tới để rồi xót xa cho sự tìm kiếm chỗ dung thân còn mơ hồ giữa vòm trời gió bão.

Mưa dịu bớt. Ghe rời chỗ đậu âm thầm lướt đi lẻ loi dưới màn nước mong mỏng và khoảng trời tím thẩm hoàng hôn. Trong khoang một chút ánh sáng nhỏ của cây đèn bão được đốt lên treo bên vách cho thấy mọi người đã nằm ngủ ngổn ngang bên bộ bài tứ sắc còn lộn xộn những con bài xấp ngữa.

Kim vẫn ngồi im lìm bên khung cửa nhỏ suốt cơn mưa dài. Bên ngoài bóng tối đã chụp xuống mênh mông lạnh lẽo như từ lâu thiếu vắng mặt trời. Ðàng xa loáng thoáng ánh đèn, một chiếc ghe chạy ngược trở về. Khi hai ghe đến gần người tài công bên kia nói vọng qua:

- Phía trước có cướp chận ghe đó!

Tiếng chú Bân hỏi lại :

- Khoảng nào? Có mất mát gì không?

-Phía trên đó. Không lấy được gì, quơ bậy bạ mấy cây đường thốt nốt.

Mọi người trong khoang ngồi rột dậy nhôn nháo. Bà chủ ghe thì thầm:

- Ai có tiền bạc, vàng vòng kiếm chỗ dấu đi nhe.

Kim run rẩy, lần tay phía trước bụng lấy ra gói giấy, lúng túng không biết phải dấu nơi nào. Sau một thoáng suy nghĩ, Kim lết về phía lái, bỏ vào rỗ đựng chén lấy chồng tô lớn úp lên. Nghĩ thầm, một gia tài nhỏ trong gói giấy đó nếu bị cướp chắc phải quay trở lộn về. Lui vào ngồi lại chỗ cũ lầm thầm khấn cha mẹ phù hộ thoát khỏi sự mất mát. Thấy bà ngoại bò lại phía cái khánh thờ nhét vào phía dưới cái gì đó. Chú tài công cho máy nổ nhỏ sức chạy chậm hơn.

Trong ghe mọi người im thin thít như những người tử tù chờ giờ hành quyết.

Bà chủ ghe ra lịnh:

- Bân, neo ghe lại chờ một hồi coi sao.

hiếc ghe dừng lại giữa sông. Mưa đã tạnh. Từng loạt gió thổi lướt qua, những giọt nước đeo đọng trên cành dựa mé rơi lào xào xuống sông. Xung quanh vắng lặng, nghe rõ ràng tiếng cá móng nước hòa với tiếng kêu của ếch nhái, của dế giun vang lên từ vùng cây cỏ. Thời gian như đứng im trên đỉnh trời còn giăng mây xám và hãi sợ một thoáng động của lá cành.

Một lúc khá lâu không nghe động tịnh gì. Bà chủ ghe lên tiếng:

- Không lẽ đậu hoài ở đây. Bân ơi! Cho chạy đi.

Máy ghe nổ thật nhỏ và chầm chậm trôi theo dòng với sự lo âu hồi hộp và nhịp tim đập loạn xạ của mọi người trong khoang. Bỗng tiếng thổ ngữ lồ xồ rợn rùn cất lên bên mé bờ trong tiếng lên cò của nòng súng. Chú tài công hỏi nhỏ:

- Bà chủ, mình ghé vô nha, không thôi chúng nó bắn đó.

Ghe cặp vào mé. Mọi người trong ghe im lặng, bất động như những xác chết ngồi.

Hai người đàn ông xuống ghe, nói với nhau bằng thổ ngữ, lục soát từng người một, gom góp hết mớ tiền còn lại trong túi của mấy bà bạn hàng. Ðến gần chỗ ngồi của bốn bà cháu, đôi mắt của hai tên cướp sáng hoắc long lên khả ố ánh ra chỗ chừa của cái khăn sọc rằn bao quanh khuôn mặt. Tên nầy nói với tên kia gì đó rồi chia nhau lục soát hai người con gái trước. Thấy trong túi nạn nhân không tiền, tên cướp nắn nót tìm kiếm mọi chỗ trong người Kim không chừa một chỗ riêng tư con gái. Moi móc đến nỗi Kim phải tránh né chống đối, mắt trừng trừng phẩn nộ. Tìm kiếm không được gì tên cướp quát lên giọng gầm gừ lớ lớ “vàng để đâu?”

Kim thu người vào sát vách ghe lặng thinh. Không nghe trả lời, hắn nắm tóc Kim quấn hai vòng trong bàn tay, giựt mạnh, lườm lườm dòm mặt cô gái hồi lâu hắn mới rời sang qua bà ngoại lục lọi tiếp. Ðổ hết hai bọc áo quần, giũ từng cái, liếc dọc liếc ngang. Cạnh bên, tên kia cũng làm như vậy, hắn lục lọi ve vuốt khắp người Nga, sự va chạm thân xác gây trong lòng hắn nỗi ham muốn về nhục thể, đôi bàn tay hắn không ngừng sờ mó, thô bạo mạnh tợn cho đến nỗi Nga không chịu được phải hét lên và khóc ngất. Trên bờ, đồng bọn bỗng lên tiếng kêu réo, hai tên dưới nầy đành quét mắt một lượt nữa bốn phía chung quanh rồi nhảy nhanh lên bờ. Bốn bóng người lẫn vào màn đen mất dạng.

Bà ngoại ngó hai đứa cháu gái ngồi cúi đầu qua ánh đèn nhỏ, thở dài xót xa. Kim ứa nước mắt, nuốt xuống lòng mình niềm tủi hận.

Bà chủ ghe nói:

- Tụi cướp nầy khốn nạn quá, càng ngày càng lộng. Bân, cho ghe chạy mau, ghé Om-Xà-No ngủ.

Ðộ chừng năm bảy phút thì ghe tấp vào một bến nhỏ cắm sào ngoài xa bởi những chiếc xuồng đậu đặt lừ gần mé nước.

- Bà con sửa soạn lên bờ.

Dứt lời, bà chủ ghe, chị bạn hàng và chú tài công nhanh nhẹn ra khỏi ghe lên bờ đi mất dạng. Kim bò trở lại chỗ dấu cái gói giấy khi nãy nhét vào người.

Lúc quay lại, Kim cũng thấy bà ngoại làm như mình. Bây giờ Nga, Tân xách hai bọc hành lý chờ đợi bước theo chị. Kim lần bước trong bóng đêm dắt bà chuyền qua chùm xuồng ba lá lắt lư chao đảo. Ðến mé, chị Sol chực sẵn đứa tay giúp kéo từng người một lên bờ, dẫn bốn bà cháu bước thấp bước cao men theo con đường đất với những ngôi nhà lá nhỏ lờ mờ bên bờ trong vòm không gian đen đặc.

Ðến một căn nhà không xa mấy bờ sông, nhưng cách biệt hẳn với con đường đi do khoảng sân rộng và hàng rào mồng tơi bao bọc chung quanh. Chị Sol kề tai Kim nói nhỏ :

- Nhà của bà chủ ghe cho người đi buôn lỡ đường mướn ngủ.

Bỡ ngỡ bước vào cửa, cây đèn măn-xông treo phía trên cho thấy một căn và hai chái rộng rãi, cao ráo. Chính giữa nhà một cái bàn cây tròn với sáu cái ghế đẩu. Hai bên vách là hai dãy ván lót dài tận phía sau. Hàng chục chiếc ghế bố xếp dựng hai bên chái. Người chủ ghe cũng là chủ nhà đứng sẵn đó từ bao giờ đon đả chỉ vào bên trong:

- Bà ngoại và mấy cháu ngủ bộ ván sát vách đó với Chị Sol. Tôi qua nhà bên kia lấy cơm.

Mở tủ lấy chiếc mùng vải trắng lớn, vài cái gối mền để lên ván, bà chủ ghe lại thoang thoát đi ra ngoài. Hai chị em phụ với chị Sol giăng mùng, vắt lên, chờ giờ đi ngủ.

Cơm nước xong xuôi, Kim chun lấy cái mền nhỏ xếp nhiều lớp trải lên phần ván dành cho bà ngoại, miệng lẩm nhẩm, để ngoại nằm sát vách cho có vật chắn an toàn. Tân nằm kế ngoại, rồi Nga và mình. Còn chị Sol nằm phía ngoài án ngữ.

Thiếu gối, Kim dùng bọc hành lý gối đầu cho mình và cho em như dưới ghe khi sáng.

Không có đồng hồ, không biết giờ giấc, sự mỏi mệt bắt Kim phải nằm xuống. Ðêm nay cũng như đêm qua, tịt mù vùng đất lạ. Ði đâu đó một lát, chị Sol trở về dở mùng leo lên ván. Ðèn tắt, bóng đen đã buông mau xuống căn nhà. Bên ngoài tiếng dế nỉ non, tiếng cành cây cọ quẹt trên mái tôn, tiếng đập cánh của dơi và xa xa vẳng lại tiếng chim heo kêu quát… quát . Cạnh bên, bà và hai em đã thôi trở mình. Nhớ lại buổi tối trên ghe, nỗi kinh hãi còn lãng đãng trong hồn. May mắn không bị phát giác chỗ cất dấu mấy lượng vàng.

Toán cướp là những người nào mà được an lành cướp giựt dọc bờ kinh sát cái làng nhỏ nầy? Tại sao họ che mặt, có thể quen biết với những người đi buôn? Câu hỏi thốt ra chỉ dội lại trong lòng một sự trả lời còn mơ hồ trong tư tưởng. Nhắm nghiền hai mắt, màu đen ngập tràn trong hố mắt. Thần trí lãng vãng sự chết chóc, cướp của giết người. Hé mắt dòm khuôn mặt người đàn bà Miên đưa đường như cố gắng đo lường điều man trá chứa ẩn để rồi hoài nghi hiện tại bởi những lần đọc báo trước kia. Chưa hề rõ tông tích, biết sơ sài qua sự giới thiệu của bạn bè. Nơi quê nhà không còn thân nhân để nhờ giữ số vàng còn lại hầu giao cho nhóm tổ chức dẫn đường khi cuộc hành trình xong xuôi, đành phải mang theo trong người và hứa sẽ chồng hết tại nhà họ ở Nam Vang. Lo lắng hiểm họa về lòng người. Nếu họ thông đồng với kẻ xấu, liệu bốn người có giữ được tánh mạng? Kinh hoàng khi nghĩ tới điều bị giết !!! Chắc là không thể, không phải vậy. Họ là những người dẫn đường chuyên nghiệp kiếm ăn. Lẽ nào… Những ám ảnh ghê rợn và hoạt cảnh của bọn cướp làm sờn, Kim lòng muốn trở về. Cạnh bên tiếng ngáy lớn vô tư của chị dẫn đường xoáy vào màn tai. Ðêm đã sâu, bốn bề bóng tối mông lung vây bủa, tự dặn lòng cố gắng đề phòng mọi bất trắc và gìn giữ người thân.

Triền miên với cảm giác rờn rợn, con buồn ngủ cũng đã bắt đầu đậu vào đôi mắt. Bỗng nghe cánh cửa sau động đậy. Mở lớn mắt, một người đàn ông Miên với cây đèn dầu trên tay bước vào đứng sững một chỗ liếc cùng khắp gian nhà, cuối cùng hướng về phía bộ ván có người nằm. Kim run bắn người, sợ sệt, lay nhẹ chị Sol, nghiêng nhẹ qua phía chị kề vào tai thì thào báo tin có người vô nhà. Chị Sol mở mắt dòm về phía cây đèn. Nằm yên trong bốn bức vách mùng, hai người theo dõi cử động của gã cầm đèn đang đứng im nghe ngóng. Kim nghe rõ nhịp tim mình đập bình bình. Chị Sol nắm tay Kim bóp nhẹ trấn an.

Người đàn ông đó vẫn cầm cây đèn đưa về phía trước, bước từ từ đến bộ ván, kê mặt vào mùng như muốn nghe ngóng hay tìm kiếm cái gì . Thiên Kim vội vàng nhắm khít mắt. Chị Sol giả đò trở mình, tên người Miên lui lẹ ra xa. Chờ lúc lâu, hắn nhè nhẹ bước tới lần nữa. Chị Sol thình lình ứng thinh lên lớn một tràng tiếng Miên, hắn thổi đèn, chạy bay ra ngoài mất dạng.

- Nó sợ chạy rồi. Không dám trở lại đâu.

- Nó muốn làm gì vậy chị?

- Tên trộm vặt. Ngủ đi.

Một chút yên lòng. Kim trăn trở hồi lâu mỏi mòn cũng thiếp vào giấc ngủ. Ánh sáng mặt trời xuyên qua kẻ vách. Những hình tròn tròn trứng vịt từ nóc nhà soi xuống nền đất. Mọi người đã thức dậy lo phần việc riêng của mình. Kim còn say ngủ. Thằng Tân liếng xáo dở mùng nắm chưn chị kéo mạnh. Bà ngoại khoát tay ra dấu không cho Tân đánh thức:

- Ðể chị hai con ngủ thêm một chút nữa. Kêu nó dậy làm gì? Chưa đi bây giờ đâu.

- Sao ngoại biết?

- Chị Sol nói với ngoại mà.

Do cái kéo chưn, Kim mở mắt vội vàng ngồi lên, chun ra khỏi mùng mỉm cười với em. Nga giúp chị cuốn mùng, chồng gối mền đẩy sát góc vách. Chị Sol vừa đi vô vừa hối mọi người thay áo quần gom đồ đạc ra chợ ăn sáng và chờ ghe bỏ hàng rồi đi luôn. Thẳng về phía trước, khỏi ngôi nhà độ năm mươi thước thì đến một cái chợ nhỏ. Tất cả hàng quán bày bán trên một nền đất cao hình chữ nhựt. Nhà lồng chợ cũng trên khoảnh đất đó. Sườn nóc bằng cây lợp chồng chất với những tấm tôn cũ kỹ. Xung quanh là những căn nhà lá nhỏ cửa đóng kín, có thể người ở đó đã ra chợ bán hàng. Ðưa bốn bà cháu đến một cái quán hủ tiếu, cà phê chiếm một khoảng lớn ở góc nhà lồng, ngồi chỗ bàn có những cái ghế chưn thấp vừa ăn vừa nhìn ngắm mây trời. Chị Sol trả tiền hủ tiếu, căn dặn chờ ở đây và bỏ đi về phía bờ sông.

Những người bán hàng là người Miên, có lẽ họ đến đây sanh sống sau cuộc ngoại chiến, nội chiến đẫm máu. Không biết nhóm chợ từ lúc nào, bây giờ chỉ còn lưa thưa năm bảy người mua bán nên tiếng ồn ào bớt lần. Mùi ẩm mốc bốc lên từ vũng nước mưa đọng lại tối qua bên hong chợ và hơi nóng của nắng lẫn mùi cát bụi quen thuộc đưa vào khứu giác giống như mùi riêng của đất nước nơi quê nhà.

Trên đất từng khoảnh rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ chuối, lá chuối và bả mía trơ vơ với đàn ruồi bay lên đáp xuống. Một vài người bán hàng đang thu xếp hàng hóa, đòn gánh đã xỏ sẵn vào đầu gióng. Mấy đứa nhỏ Miên, mình trần ốm tong teo, quần đùi vá víu lom khom trên mặt đất, lượm lặt những cái gì có thể dùng được của những người bán hàng bỏ lại. Hình ảnh đó bày ra trước mắt mường tượng như bức tranh được vẽ lại nơi vùng đất nước vừa mới rời xa. Nhìn bao quát ngôi làng nhỏ xác xơ, xung quanh là cánh đồng cỏ cháy, sau lưng là con kinh rộng di chuyển bằng những chiếc ghe nhỏ, những chiếc xuồng ba lá chong chênh, lẫn lộn người Miên và người Việt gốc Miên buôn bán qua lại giữa hai vùng biên giới.

Những đứa trẻ dốt nát ở đây, trai đi lính như hai người lính đã thấy vừa rồi, gái cũng vậy, làm lụng khổ cực suốt đời như cha mẹ nó. Kim thở dài lắc đầu xua đuổi nỗi ám ảnh của cảnh tượng tàn tệ đời người.

Mặt trời đã lên giữa đỉnh đầu. Hơi nóng từ trên nóc chợ phả xuống hòa cùng mùi ẩm mốc từ dưới đất bốc lên khiến mọi người bắt đầu bức rức. Thằng Tân khó chịu đứng dậy chạy tới chạy lui từ đầu chợ đến cuối chợ. Không muốn kêu Tân sợ gây sự chú ý cho những người chung quanh, Nga đứng dậy đi về phía Tân nói nhỏ gì đó và dắt em về chỗ cũ, cũng đúng lúc chị Sol trở lại đưa mọi người xuống ghe. Ghe rời bến bỏ lại làng Om-Xà-No đìu hiu với khoảng độ ba, bốn chục nóc nhà tranh, lá.

Gió hiu hiu thổi, chú tài công lầm lì giữ máy. Bốn bà cháu trong ghe chong mắt nhìn mũi ghe thoan thoát rẽ nước. Lần nầy ghe chạy mau hơn, vượt qua những lùm bụi, bến bờ cho tới lúc trời chạng vạng ghe ghé vào bến phà Neak Loung.

Cũng màn đen bao phủ như hai đêm trước, hối hã theo chị Sol tới bến xe đò để về thành phố Phnom Penh. Bến xe vắng ngắt. Bốn chung quanh đường đi và các ngõ nhỏ lờ mờ. Nhà nhà đóng im ỉm trừ một vài hàng quán cửa mở hắt ra vệt sáng vàng khè trên mặt lộ. Liếc một vòng chung quanh vẽ lo lắng, và thất vọng lộ ra ngoài mặt, chị Sol gượng gạo nói:

- Hết xe đò rồi. Ði đến quán ăn cơm và kiếm nhà ngủ trọ.

Vào quán chị Sol nói bằng tiếng thổ ngữ, rồi dẫn tới cái bàn phía trong cùng.

Không ai muốn ăn gì, chỉ cần uống một chút trà nóng. Xong xuôi, bốn cái xác biết cử động đi theo sự chỉ dẫn ra dấu bằng tay của người chủ quán trong lúc chị dẫn đường đi ra ngoài. Căn phòng nhỏ sau quán cửa khép hờ, người chủ quán xô cánh cửa mở rộng rồi bỏ đi. Bốn người vội vàng bước vào, nhờ ánh sáng của cây đèn măn-xông trước quán cho thấy khoảng rộng bên trong vừa đủ kê cái giường cây cũ kỹ và chiếc chiếu rách nhăn nhúm nhừ nát trên mặt giường. Ôm hai bao vải hành lý trong người, Kim dìu bà ngoại và ra hiệu cho hai em ngồi xuống giường mặc dầu rón rén nhẹ nhàng tiếng kêu răng rắc vẫn phát ra của những thanh tre phía dưới. Ðộ nửa giờ, chị Sol trở lại dắt ra khỏi quán, hối hã đẩy tất cả lên ngồi chen chúc băng ghế sau của một chiếc xe nhà, chị ghé ngồi băng giữa với một bà già Miên và cô gái. Xe chạy được một quãng đường chị Sol quay lại đưa tay ấn mấy chiếc nón lá để trước người của Nga xuống dưới chưn. Trong xe không ai nói gì, sự yên lặng làm tăng thêm bầu không khí nặng nề và sợ sệt.

Không lâu tới một trạm xét, người đàn bà ngồi chỗ tài xế đưa tờ giấy gì đó cho người lính chận xe. Người lính khoát tay cho xe đi, tiếng thở ra thật lớn từ phía chị Sol cho hiểu mối lo lắng trong lòng đã được giải tỏa. Bây giờ Kim mới dám chòm tới phía trước hỏi :

- Chị Sol, xe của ai vậy?

- Xe của bà cán bộ đi công tác về, may mắn lắm bả mới cho quá giang.

- Có tiền không?

Chị Sol cười và nói :

- Trên đời, không tiền không làm gì được.

Xe chạy vào giữa hai dãy đèn trên con đường dẫn đến thành phố. Bà cán bộ quay xuống nói một tràng tiếng Miên, chị Sol đáp lại cũng một tràng dài trong đó có tiếng Sàigòn.

Tò mò, Kim hỏi :

- Bà đó nói gì vậy? Chị nói gì có Sàigòn trong đó.

- Bả hỏi chị xuống đâu? Chị nói, cho xuống cầu Sàigòn.

Xe đã bắt đầu chạy chậm và rề rề, rồi ngừng hẳn ở lề đường. Bên tay phải có cây cầu lớn dài bằng xi măng bắt qua sông. Dưới sông lố nhố nhiều ghe nhỏ, ghe lớn cấm sào phía bên nầy và bên kia cầu. Ðây là cây cầu có tên Sàigòn của thành phố Nam Vang mà những bà chủ ghe thường cho ghe ghé tại bến cầu nầy để dễ lên hàng, xuống hàng từ tỉnh Châu Ðốc đến.

Mấy bà cháu chồm người tới trước trong tư thế chờ đợi hai mẹ con người đàn bà Miên bước xuống. Ra khỏi xe, thình lình một bà già nắm đầu đứa con gái mình vừa tát mạnh vô mặt vừa la lối om xòm. Người đứng gần xúm lại bao quanh chiếc xe, chỉ chỏ, bàn tán. Chị Sol lật đật lôi bốn bà cháu tuôn mau xuống đất, kéo ra khỏi đám đông, đón xe lôi về nhà trong sự vội vã. Xe chạy qua mấy con đường vắng vẽ mường tượng như ngoại ô rồi dừng lại trước một lối mòn sầm uất. Sau rặng cây già thấp thoáng ngôi nhà xam xám kiểu nhà sàn của đồng bào thượng nhưng vài thứ khác biệt là cửa, vách bằng cây và mái lợp ngói.

Ngước mắt dòm lên từng cao, bầu trời đục đục u ám, xa xa vài ngôi sao lạc lõng nhấp nháy soi mập mờ mảnh đất lạ lẫm dưới chân, Kim rùng mình, nỗi ám ảnh cướp bóc, hành vi khả ố trên ghe đêm qua, một chút ngao ngán dấy lên, ái ngại về đoạn đường sắp tới của bốn người.

——————————————————————————–

Nguyễn Thị Long An

Truyện Ngắn:
Chờ Cho Trăng Lặn
Nguyễn Văn Sâm

——————————————————————————–

Sự đời thà khuất đôi tròng mắt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.
(NÐC)

Thằng Thành khom lưng vét chút nước mấp mé dưới đáy lu mà mắt ngước ngó lên đám mây thành đương sơn màu hồng lợt bằng chút nắng quái le lói của ngày tàn. Mấy lùm tre đằng đông đã bắt đầu mờ mờ nhưng phía nầy ánh thái dương vẫn còn ngự trị. Nó rảo mắt theo dõi mấy cụm khói lam chiều tỏa lên chỗ xóm nhà lá xa xa, lòng nôn nóng. Mới đi xốc lá ủ về, tay chưn mình mẫy dơ dáy, rửa ráy sạch sẽ rồi chút nữa sẽ thả bộ tới nhà thầy Năm Dậu. Càng cà rà kề rề càng lâu càng tốt để ngó con Kén cho mãn nhãn. Ôi đôi bông chạm bông búp nhỏ xíu đậu trên hai trái tai trắng nuốt của nó thấy mà muốn rụng tim! Ði đã, cơm nước tính sau! Làm túi bụi rộn ràng cả ngày chỉ chờ lúc nầy thôi. Có cuốn Hậu Vân Tiên má mới xì ra hồi sáng, nhập với mớ thơ truyện đủ thứ, năn nỉ thiếu điều gãy lưỡi mới muợn được đằng nhà bác Hương Giáo hồi hôm qua, sẽ đưa hết cho bà Hai mượn chuyền. Bà vui lòng không than mỏi lưng buồn ngủ thì buổi nói thơ với bàn chuyện Nam Tào Bắc Ðẩu càng dài, càng vui.

Cái gáo dừa cạ xột xột vô chỗ quét xi-măng-nước dưới đáy lu, má nói ê răng ghét lắm, mỗi lần nghe là mỗi lần ngầy-ngà vậy mà thấy vui vui. Lu hết nước, ló cái u dưới đáy, ánh lên màu rêu mốc xanh xám, ngời chiếu. Nước cặn quá mạng! Nó lấy đầu gối đẩy thành lu cho hổng đít lên, tay trái kềm nghiêng nghiêng, tay mặt vét múc chút nước ít oi còn xót lại. Vài con lăng quăng bất hạnh bị múc vô gáo, đem lên ánh sáng, khó chịu, búng lên búng xuống một hồi rồi mệt mỏi thả chìm từ từ xuống đáy gáo như một cử chỉ chấp nhận thua cuộc.

Thằng Thành ngó mấy cái đầu bự bằng đầu kim gút mà tưởng tượng trong đó có đôi mắt van nài đừng quấy động, rồi mỉn cười một mình. Thường, buổi trưa trời nắng, khát nước, nó uống ừng ực luôn ba bốn hớp đầy, cố ý chừa mấy con lăng quăng ra. Rủi ro một vài con hết thời trôi vô tọt luôn thủy liêm động thì cũng chẳng chết thằng Tây thằng Ma-rốc nào, sao bữa nay mắc chứng gì mà rửa tay rửa chưn cũng để ý tới mấy con vật nhỏ nhỏ tung tăng đó?

Nó xối một cách hà tiện chút xíu nước vô tay cho ướt rồi vuốt vuốt mặt. Nước mưa để lâu ngày mát lạnh da thịt một cách dễ chịu. Chừng một tháng nay con Kén đưa tách nước trà mời khách không biết vô tình hay cố ý mà lần nào cũng đụng vô tay nó. Cũng mát lạnh như vậy, dầu sự đụng chạm rất ngắn ngủi và phần giao tiếp giữa tay nó với tay con Kén cũng nhỏ híu bà hiu. Vậy mà bữa nào nó cũng thấy vui như mở cờ trong bụng. Vui tới tàn cuộc về chui vô nóp cong mình lại dỗ giấc ngủ muộn màng mà cũng vẫn còn vui. Giờ nầy chắc bên đó xong xả hết chuyện cơm nước rồi. Có lẽ họ đương sửa soạn đèn đuốc, trà nước. Chút nữa hỏng bày cuộc đọc truyện Tàu thì chém chết cũng nói thơ. Tiếc là thơ truyện họ không có nhiều, quanh đi quẩn lại cũng mấy cuốn đó. Truyện thì cũng Phi Long diễn nghĩa kể chuyện Triệu Khuôn Dẩn anh hùng khí khái, Trịnh Ân lỗ mãng nhưng nhiệt tình, Sài Vinh thiệt thà lại nhác hít. Ba người kết nghĩa anh em phiêu bạt giang hồ. Thơ thì cũng Phạm Công đi đánh giặc mang quách vợ theo, cũng Tào thị mẹ ghẻ ác nhơn sát đức, cũng Lang Châu cùi nhưng được người đời đối đải tử tế, cũng chàng Vân Tiên bị tam tai bát nạn. Nhàm chán và không hấp dẫn bằng tấm thân nho nhỏ mảnh mai của con Kén đi ra đi vô nước rót trà châm hay lúc thúc trong buồng mà cái bóng dáng in đẹp mất hồn trên tấm màn bông treo ngăn ngang nhà ngoài với nhà trong. Mẹ họ, không biết phải tình yêu mới tượng không mà lúc nào cũng thương nhớ không ngui. Gần thì mắt lúc nào cũng không rời hình dáng nó, xa thì mãng tơ mãng tưởng không làm công lên chuyện xuống gì cho xăn xái ra hồn, lắm khi còn ngớ nga ngớ ngẩn như bị bùa mê thuốc lú….

Thằng Thành vô nhà lấy lược, trở đầu nhọn của cán, vít một chút bi-dăng-tin, dòm vô miếng kiếng nhỏ vắt trên vách lá, trét trét chải chải lên đầu, ngắm tới ngắm lui mấy chục bận, khi thấy đường ngôi thiệt thẳng, tóc rẽ hai bên thiệt đều, mới chịu gắn lược sau tấm kiếng đi ra. Vừa đi nó vừa quẹt mỏ chùi mấy giọt mồ hôi tươm ra trên mí mép đã bắt đầu hiện lơ thơ một vệt râu non.

Nhà thầy Năm Dậu chơi sang bữa nào cũng thắp hai cái đèn khí đá sáng rực. Lại còn vặn nước xuống nhiều, lửa xanh ở đầu béc đằng xa thấy ảo ảo như ma trơi. Nó bước vô hàng ba, đứng êm tiếng, vừa lấy bình tĩnh chờ tim bớt đập vừa coi nhóng tình hình. Tiếng thằng Cò ê-a thơ Vân Tiên:

Vân Tiên ơ ơ ơ chém (mà) Cốt Ðột rơi,
Ðầu treo ơ ơ ơ cổ ngựa (mà) phản hồi bản quân.
Ôi thôi ơ ơ ơ ..bốn phía những rừng,
rời đà (mà) tối mịt biết chừng gần xa…

Tiếng Bà Hai chận ngang:

“Thằng Cò mầy có đọc kỹ không đó mậy? Sao lại chém rơi. Ðầu nào rơi, đầu nào Vân Tiên treo cổ ngựa?”

Thằng Cò bị sửa lưng tức mình cải bướng:

“Phải mà nội, chém thì đầu phải rơi chớ. Rơi tức là rớt xuống như tiếng của mình đó nội. Chữ nghĩa người ta nói rơi. Quê mùa mình nói rớt, rụng. Ðầu giặc rơi rồi thì tướng lượm lên treo trên cổ ngựa để thị oai.”

Năm Dậu xa gần rầy con:

“Chà thằng Cò bữa nay bảnh quá ta! Dám dạy bà nội nó tiếng Việt mình nữa chớ! Bà nội từng tuổi đó mà không rành bằng mầy sao mà phải cắt nghĩa con! Cái thằng! Ðâu coi kỹ lại coi con. Chưa coi lại gì hết đã cải bướng rồi. Chữ quốc ngữ bây giờ ba cái dấu sắc huyền hỏi ngã dị hợm lắm. Sai một li đi một dặm à! Có một cái dấu không mà thầy tú thành thây tù, cư an thành cử ăn tao thấy hoài. Không phải như chữ An Nam đâu!”

Thằng Cò không sợ bà nội bằng sợ ba nó, ổng nói cà rỡn vậy mà bạt tay đau thấy ba bốn ông trời hồi nào không hay. Nó đưa cuốn thơ lên ánh đèn dò lại.

Thằng Thành lựa lúc nầy mới bước vô nhà, xá chào những người trưởng thượng, kính cẩn chìa cái gói thơ truyện cho thầy Năm Dậu rồi ngồi ké né bên mép bộ ván ngựa, chống chưn xuống đất kế bên thằng Tâm-cán-vá. Chiếc chiếu lác đương bằng cỏ u-du đã trải sẵn kế bên mà nó cũng không dám đụng. Nó liếc ngang thằng Tâm. Cha chả mình tới sớm vậy mà cũng trễ bộn, thằng nầy còn lết đít tới sớm hơn. Bộ tới đây đâu hồi tưng bửng sáng chắc? Coi bộ nó còn lậm con Kén hơn mình nữa kìa. Nhưng mà cái thằng ba trợn nầy dở mã, không đáng lo. Như chim mới vừa đủ lông, chưa dập bụng cứt, biết gì đâu nà!

Năm Dậu ngó khách, lúc đưa tay nhận gói sách anh không nói gì, cũng không mời ngồi. Có lẽ đã quá quen khách, có lẽ đã đi guốc vô bụng bọn trai tơ như lứa thằng Thành, thằng Tâm. Ðúng là bộ điệu của mấy ông có con gái đẹp!

Ði qua nhà tía, tay tôi xá chơn tôi quỳ,
Lòng thương con tía xá gì cái tấm thân tôi.

Con Kén đâu không thấy ha! Nhớ tới nó là bao nhiêu ngượng ngịu cũng chịu được hết. Không mặt dầy, ưa mắc cở thì làm sao có dịp thấy được mặt nó? Thằng Cò cũng vẫn còn dò dò kiếm kiếm, không chú ý tới khách mới. Nó khựng khựng một lúc hơi lâu rồi nuốt nước miếng tỉnh tuồng như không có chuyện gì xảy ra nãy giờ, đọc lấy đọc để:

Vân Tiên ơ ơ ơ chém (mà) Cốt Ðột rồi,
Ðầu treo ơ ơ ơ cổ ngựa (mà) phản hồi bản quân.

Ngoài kia tiếng ảnh ương hòa dạ khúc mừng bóng đêm, trong nầy thằng Cò ê-a làm vui lòng tía má với nội. Mỗi nghệ nhơn có thính chúng riêng, ai có sân khấu nấy, không ai muốn so tài cùng ai vậy mà sao coi mòi thằng Cò lép vế bộn. Nó đọc càng lúc càng nhão giọng trong khi dàn hợp xướng bên ngoài càng lúc càng uyềnh-oang vang vọng hơn lên. Thấy thằng nhỏ coi bộ buồn ngủ, bà nội nó giải quyết:

“Cò, đâu mầy lật chỗ bà già Quỳnh Trang biểu con nhỏ Thể Loan ra đón Vân Tiên đọc nghe coi. Họ thấy Vân Tiên thi đậu họ mới săn đón đưa rước đó. Chưa thi đậu thì đừng có hòng! Nghe đoạn nầy không biết bao nhiêu lần rồi mà mỗi lần nghe lại tao đều ứa gan, lộn ruột. Ðồ cái thứ đàn bà hư thân mất nết không biết xấu hổ!” T

hằng Cò mắt nhắm mắt mở lật lật kiếm kiếm. Rồi cũng xong. Nó cất giọng hào hứng như lúc ban đầu ê-a. Bà nội nó phẩm bình chêm vô giữa chừng cũng không làm nó mất trớn:

Loan rằng mình ở chẳng hay (biết vậy thì tốt!)
E người còn nhớ những ngày trong hang (thứ đàn bà trời đánh!)
Trang rằng con có hường nhan (cái nết quý hơn hường nhan chớ)
Cho chàng thấy mặt thời chàng ắt ưa. (Khéo bẹo dạng bẹo hình!)
Dầu chàng còn nhớ tích xưa (Ác quá ai mà không nhớ!)
Mẹ con ta lại đổ thừa Võ công (ai mà tin?)
Cùng nhau bàn luận đã xong,
oi gương đánh sáp ra phòng rước duyên (Ðồ mặt dầy!)

Thằng Cò để tập thơ xuống, hỏi Bà Hai: “Có hường nhan là có cái gì vậy hả nội?”

Năm Dậu trả lời hớt:

“Là đẹp đó! Như má mầy vậy!” Tiếng cười dòn nổ rân khắp nhà. Tiếng chị Năm Dău ở dưới nhà bếp vọng lên vui vẻ. “Cái đó là tui hỏng biết à nhe!”

Thằng Thành cảm thấy bớt bỡ ngỡ ngượng ngùng. Nó cười lớn hơn ai hết thảy, lại còn khen hùa để mua lòng. “Ðúng quá đúng quá! Thầy Năm nói không trật một chút nào hết.” Nói mà nó ngó con Kén thiếu điều rớt hai tròng con mắt.

Thằng nhỏ chưa chịu im:

“Chị Hai có hường nhan nhiều hơn má mà! Mấy anh trong làng ai cũng nói vậy hết, anh Thành nè, anh Tâm nè, Cậu Hai Xách-Lu nè. Bữa hổm cậu còn đọc cho con, biểu con về đọc lại cho Chị Hai nghe,

Con rắn năm khoan bò ngang đám tép.
Tao thấy chị Hai mầy đẹp đẹp tao thương.
Ðất vườn lên liếp xẻ mương,
Mắt em hột nhãn anh thương hết hồn…

Ảnh nói mắt hột nhãn là mắt đẹp.

Thằng Thành tức giận ói gan mà cũng bắt tức cười. Con Kén mới trổ mã hai ba năm nay, làm tốt, xức dầu dừa, chải đầu chải cổ óng mượt thì cũng ưa nhìn đó. Ưa nhìn thôi, chớ làm sao sắc sảo bằng mấy con nhỏ lớn hơn một hai tuổi ở Ô Môn, Bình Thủy mà nói có hường nhan? Nó ngó theo bộ hậu con Kén khi con nhỏ đỏ mặt đứng dậy cái rột đi vô buồng lẹ như chạy trốn. Ðã vậy mà khi đi ngang qua chỗ thằng Cò ngồi, ẻn còn kí đầu nó một cái cốc nghe không thôi cũng thấy đau điếng. Cả nhà ai nấy đều cười nghiêng ngửa. Bà Hai cười chảy nước mắt, vừa kéo khăn chậm mắt vừa cố gắng nín cười.

Có tiếng lớn họng ngâm nga ngoài ngõ: “Vân Tiên Vân Tiển Vân Tiền, Ai cho tôi tiền tôi nói chuyện Vân Tiên” rồi cậu Hai Xách-Lu bước vô nhà, thơm phức mùi dầu thơm thành thị. Cái đầu ngúc ngắc, cái mặt vát hất như mặt thằng đánh bồng, thấy ghét không chịu được, thằng Thành chưởi thầm trong bụng!

“Chào ngoại, chào chú thiếm. Ủa thằng Thành với thằng Tâm cũng có mặt ở đây nữa hả. Cũng biết nghe nói thơ sao mấy bậu?”

Câu hỏi bị đá chuyền vô trong không khí, người đáng lẽ trả lời làm bộ không nghe, người hỏi cũng không cần câu đáp. Mấy người lớn ngó nhau. Không khí đọng lại cở chừng một phút. Cậu Hai trân trọng đem để trước mặt bà Hai một gói trầu cau, nói:

“Con mới ra chợ Ô Môn, thấy trầu cau ngon mua về cho ngoại dùng. Có cái ống ngoái đồng nữa. Cái của ngoại nứt hết rồi cũ quá, vôi đóng đày miệng ngoái khó khăn!”

Bà Hai ừ chừng cho qua tang lề, coi mòi không thích lắm chuyện quà cáp, cũng không đưa tay đụng tới món quà. Cậu đem tới Năm Dậu hai ba gói lớn xộn nãy giờ xách tòn ten, nói là thịt heo quay với bánh bò, thấy họ mới đem ra, còn nóng, mua về cho chú Năm nhậu chơi. Chục nem bì là nem Bình Thủy có người cho ông già, sẵn dịp qua đây đem kiếng biếu chú Năm ăn lấy thảo.

Năm Dậu có hơi mắc cở với hai người khách kia nên ngượng nghịu tiếp nhận rồi kêu con Kén ra lấy đồ đem cất. Buổi đọc thơ lại tiếp tục. Bà Hai ngó theo con Kén rồi ngó cậu Hai. Cử chỉ của bà điềm đạm như tự thuở giờ, hai tay vẫn ngoái trầu, cái ống ngoái được kềm giữa hai bàn chưn, mặt không lộ vẽ ghét thương gì về sự có mặt của cậu Hai. Bà vẫn điều khiển cuộc nói thơ:

“Cò, đâu con lật chỗ Vân Tiên gặp Nguyệt Nga đọc cho bà nghe coi. Sao bà thương hai đứa đó quá! Xứng lứa vừa đôi mà trắc trở cả mười năm mới gặp lại nhau.”

Thằng Cò đã quá quen với cách nghe đọc thơ kiểu nhảy tới nhảy lui của bà nội nó, kiên nhẫn thấm nước miếng lật kiếm đoạn được yêu cầu. Nó lại ê-a…

“Riêng than trâm hỡi là trâm,
Ðã vô duyên bấy ai cầm mà mơ.
Ðưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ chớ từ.”
Vân Tiên ngó lại rằng: “Ừ,
Làm thơ cho kíp chừ chừ chớ lâu.”

Tâm Cán-Vá lặng yên thin thít nãy giờ, bổng nhiên mở màn bình luận, giọng ồ-ề của con trai mới bể tiếng:

“Cái anh chàng Vân Tiên nầy hay cải trời! Con gái người ta đưa trâm nghĩa là trao tình rồi, cứ đưa tay ra là được mèo thôi, vậy mà còn từ chối. Chắc làm bộ quá. Chín hấu mại hơi là cái chắc.”

Thằng Cò bỏ cuốn thơ xuống ván ngựa, sẵn dịp lấy tay vò vò chỗ đau trên đầu rồi ngóng mỏ về phía người nói. Thằng Thành thấy dạng miệng cũng góp ý:

“Không phải làm bộ làm tịch gì đâu, đàng hoàng với đàn bà con gái đó. Hỏng thấy Vân Tiên biểu khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái, ta là phận trai hay sao? Ðàng hoàng là nhờ theo thầy học đạo thánh hiền. Sách dạy nam nữ thọ thọ bất thân….”

Cậu Hai Xách-Lu ra dấu không đồng ý với thằng Thành nhưng thằng nầy cứ coi như không, nói tiếp:

“Cái khác của Vân Tiên với thằng Lía ở chỗ đó. Vân Tiên người ta đi học thành tài, người ta là tướng, là vua nên đàng hoàng. Thấy gái thì khoan thai chậm rãi. Còn thằng Lía đi học không tới đâu hết đã bị đuổi rồi – nó cố tình đưa ra chi tiết nầy – nên thấy gái, dầu là gái có chồng cũng tò vè, tọc vạch ép uổng. Cho nên về sau chết vì gái. Chết mà hỏng ai thương xót.”

Cậu Hai thấy mình bị nói xỏ xiên, giận cành hông. Tao bị đuổi vì tao chán học. Mấy thằng Tây dạy trên trời dưới đất tao có thấy xài được giống gì đâu mà học hành cho mệt thân. Về đây góp lúa ruộng mấy trăm mẩu, coi hai cái nhà máy xay, vừa ăn vừa phá suốt đời cũng không hết, học làm chi cho uổng đời trai? Bị đuổi tao còn nói được tiếng Tây, còn mầy là thằng con nít hỉ mũi chưa sạch, đừng có nói xỏ xiên, lộn xộn.

“Vân Tiên làm bộ nhát gái đó,” cậu cố nói giọng thiệt là trầm tỉnh.

“Ðạo đức giả ai mà không biết. Có người đã thấy rõ Vân Tiên là người đạo đức giả nên tức mình đặt câu hát nói huỵch tẹt ra…”

Cậu quay qua Bà Hai:

“Xin lỗi ngoại, thằng nầy nói con tức quá nhịn không được. Nói chỗ nầy khó lắm. Mà ngoại có cần đi ra sau xúc miệng cổ trầu để uống nước không? Nước của ngoại nguội rồi đó. Ðể con rót cho ngoại nước khác, nóng uống cho ngon miệng.”

Bà Hai hiểu ý, thở dài rồi bỏ chưn xuống ván quơ quơ dưới đất kiếm guốc, sửa soạn đi ra nhà sau. Tuy vậy bà vẫn nói:

“Ờ! Nhưng mà tao trở lên liền đó nghen! Bây có nói gì thì nói lẹ đi!”

Sau khi ngó ra nhà sau, chắc chắn không có đàn bà con gái ở gần, cậu Hai Xách- Lu mới nói, giọng nhỏ hơn bình thường:

“Phàm người ở đời thì không ai tránh khỏi cái tật gái tham tài trai tham sắc. Nói không tham không ham là nói ngoài lỗ miệng thôi, để che mắt thế gian, trong bụng mình thì ai cũng như ai, toàn cứt không. Bởi vậy cho nên thấy Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu đạo đức giả người trong đồng quê rẫy bái mình, vốn tính thiệt thà chơn chất, nghĩ sao nói vậy, mới có câu hát: “Vân Tiên núp dựa bụi môn, chờ cho trăng lặn bóp … Nguyệt Nga”. Xin lỗi Chú Năm, cái thằng Thành nầy không nói rõ nó không hiểu chuyện đời.”

Là con trai mới lớn, nghe tới món đó thằng Thành hết hồn, câm miệng. Thuở giờ nó cũng có nghe câu nầy chớ chẳng phải không. Nghe nhiều lần nữa là khác. Nhưng mà kín đáo riêng tư giữa con trai cùng lứa, chớ không phải giữa thanh thiên bạch nhựt có người lớn tuổi cở cha chú ngồi ở kế bên. Ở đây nói lên câu đó là không phải chỗ rồi. Càng trật hơn là đáng lẽ nói mí mí lại nói huỵch tẹt. Ðã đành là bạch tuột nhưng mà vừa vừa phải phải thôi chớ, ai lại bạch tuột kiểu lỗ mãng như vậy. Ngoài nhà sau có ba người đàn bà, chắc gì họ không nghe? Gái tham tài trai tham sắc, nói cả mớ vậy sao được, nước giữa dòng khi trong khi đục, người ở đời kẻ tục người thanh chớ. Bá nhơn bá bụng mà! Ðâu phải ai cũng giống ai.

Ba người phụ nữ lên lại nhà trên. Chị Năm Dậu với con Kén bưng chè-sôi-nước mời từng người. Khi ngồi yên vị rồi, và thấy mọi người ai cũng có một chén chè nóng trước mặt, bà Hai mở đầu lại:

“Ðâu nãy giờ bây bàn chuyện gì đâu nói nghe coi. Ðể bà già nầy phân coi ai phải ai trái, ai có lý ai vô lý.”

“Ðâu có bàn gì đâu ngoại”, cậu Hai lẻo mép hớt trước mọi người. “Nói mà nghe chơi thôi. Con nói là người mình đã đặt câu vè chê ông Nguyễn Ðình Chiểu lúng túng không biết làm gì cho phải, chủ trương đánh Pháp hay hòa với người Pháp. Ðánh thì đánh không lại. Hòa thì khác nào như kêu dân mình xuôi tay để mặc tình bọn họ ức hiếp. Cái lúng túng đó thấy rõ trong cử chỉ của Vân Tiên trước mặt Nguyệt Nga, không biết đối xử với đàn bà con gái thế nào cho phải cách, theo kiểu đàn ông con trai hay theo kiểu tiên nho thánh hiền…”

Bà Hai chận ngang:

“Bây nói nhiều quá ai mà theo kịp! Ðâu người mình đặt câu gì chê cụ Ðồ Chiểu đâu?”

“Dạ thì thiên hạ đọc hoài đó. “Vân Tiên cõng mẹ trở ra, đụng phải cột nhà cõng mẹ trở vô. Vân Tiên cõng mẹ trở vô, đụng phải cái bồ cõng mẹ trở ra. Vân Tiên cõng mẹ trở ra. Ðụng phải bà già cõng mẹ trở vô. Vân Tiên cõng mẹ trở vô, đụng phải gà cồ cõng mẹ trở ra”….. Cứ vậy mà trở ra trở vô hoài, hết ngày hết tháng hết năm hết đời, như là ông Nguyễn Ðình Chiểu lúng túng phải lựa chọn giữa cái văn minh vật chất Tây phương và nền nếp luân lý cùng trung quân ái quốc Á Ðông, lúng túng giữa đánh với hòa..”

“Tao không học trường Tây trường u như bây nên không biết kiểu liên hệ so sánh ấy là phải hay không phải. Có điều từ câu hát kia tới lời kết luận nọ tao thấy xa xôi quá, cầu cả chục sào lận, theo muốn điều hụt hơi mà cũng còn chưa kịp. Tao chỉ biết là ông bà mình hát giỡn Phạm Công cõng mẹ trở ra…. chớ không hát Vân Tiên cõng mẹ trở ra bao giờ. Phạm Công đắt mẹ đi ăn mày thì cõng cũng là hữu lý. Mẹ già như chuối ba hương, mẹ đi không nỗi nữa thì con cõng. Chớ mẹ Vân Tiên mất trong khi Vân Tiên đương trên đường lai kinh ứng thí thì mẹ nào cho Vân Tiên cõng? Bây đặt bậy bạ, bây lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia rồi bây cắt nghĩa đùi nầy nọ về chuyện của người xưa thì tội lắm đa nghe. Tội với cổ nhơn đã đành mà tội với chữ nghĩa thánh hiền mới là trượng! Lút đầu!”

Thấy bộ mặt tiu ngỉu của Cậu Hai, Năm Dậu mới ngoắc ra hàng ba, nói ba điều bốn chuyện để xoa dịu khách:

“Mới có một vố nhẹ nhẹ mà sao coi cậu bàu nhàu quá vậy? Có gì đâu!” Ngừng một lúc Năm Dậu thân tình. “Cậu Hai học trường Tây mà bàn chuyện văn thơ Việt Nam cũng được ớn đó chứ! Cậu ở Sài-gòn nhiều chứ thời gian ở miệt đồng quê rẫy bái mình đâu có nhiều mà coi mòi cậu thuộc câu hò, câu hát nhiều ghê hen?” Ngừng một chút, Năm Dậu nói thêm, “Hai câu mà cậu đọc cho thằng Cò sao tôi chưa nghe chưa biết bao giờ? Tôi thuộc lòng quyển Câu Hát Góp của ngài Ðốc Phủ Của, luôn cuốn Tục Diêu Chánh Phong của thầy giáo Sắc ở Tân An tôi cũng nghiền ngẫm hoài mà không thấy mấy câu hay ho đó.” C

ậu Hai trúng tủ, thay vì bẽn lẽn lại hào hứng khai thiệt, giọng cố tình bình thản nhưng không khỏi phưởng phất trong đó đôi chút tự hào:

“Thì cháu đặt tuồng bụng thôi. Cứ nói trời trăng mây nước gì đó ở câu trên, xuống câu dưới cho có vần là xong chuyện. Cháu làm hoài trong mấy bài thi môn Annamite ở trường mà có ông thầy nào dám hỏi dám nói gì đâu. Câu hát câu hò của người mình ngàn trùng san dã như lá trên rừng, như sao trên trời mấy ai biết hết. Mà cũng không có ai tài nào biết được câu nào thiệt câu nào giả, câu nào thiên hạ truyền tụng lâu rồi, câu nào mạo hóa mới được đặt chưa ai biết ai nghe ..”

Trầm ngâm một lúc Cậu Hai mới nói như phân bua:

“Cháu không phải người ăn nói bỗng chõng không biết xét trước sau. Bà ngoại ứ-hự cháu cũng đủ đau, cũng đủ thấy mình dốt. Nhưng mà cái câu Vân Tiên cõng mẹ… thiệt tình là cháu nghe thầy giáo trên đó đọc rõ ràng. Những điều nói hồi nãy cũng là lập lại lời thầy giảng mà thôi. Thầy tốt nghiệp bên Tây đàng hoàng, học trò ruột của cụ Trần Nguơn Hanh, dạy học mấy chục năm nay, từ hồi chưa có Âu Châu Ðại Chiến lận. Không lẽ ổng lại đặt tuồng bụng như cháu?”

Năm Dậu móc gói thuốc rê ra quấn rồi chậm rãi le lưỡi liếm mép giấy để có thì giờ tìm câu trả lời cho thỏa đáng mà không mất lòng. Anh quẹt quẹt định đốt thuốc. Cái hột quẹt máy xài bằng dầu hôi quẹt năm sáu cái mới bắt lửa, lên khói hơi nhiều cũng không làm anh chú ý. Trời tối, gió thoang thoảng mát, thơm mùi bông trang tới từ cụm cây gần bàn ông thiên.

“Cháu là đứa chịu học môn Annamite lắm nên thầy nói gì cháu đều cố nhớ,” cậu Hai tâm sự thêm “Mỗi lần có dịp ra đường D’Ormay là mua cho được mấy cuốn sách của Maison Phát Toán về đọc. Mấy năm ở en-tẹt chúa nhựt ở không, đọc chữ Tây chữ u thì lâu lắc, đọc quốc ngữ bất luận cuốn nào cũng thấy hay….. Thầy còn nói là thiên hạ ghét ông Ðồ Chiểu cho Vân Tiên hành động cứng nhắc, mỗi mỗi đều theo cách thế của ông Khổng ông Mạnh cho nên họ đặt ngược lại nhiều chuyện xấu về Vân Tiên. Nào là Vân Tiên ghiền, nào là Vân Tiên cờ bạc. Thử hỏi có nhân vật trong thơ nào mà bị vẽ nên hình ảnh xấu xa như vậy không?”

Năm Dậu không biết trả lời sao cho ổn, trả lời nầy nọ thì cũng dể thôi, nhưng mà ý kiến vẫn là ý kiến, chân lý nằm ở đâu không ai biết được. Thôi đánh hai chữ làm thinh là tốt, anh ngắm đám sao trời nhấp nháy, phì phà điếu thuốc sâu kèn.

“Nè Vân Tiên cờ bạc nè: …Ðặt tên là Lục Vân Tiên, tuổi vừa hai tám nghề chuyên bạc bài..”

Năm Dậu tức cười thầm. Cái thằng công tử bột, được đi học trường Tây trên Sài- gòn là sướng quá trời rồi vậy mà không lo học hành cho đàng hoàng đến nỗi bị đuổi. Về đây cả năm nay ăn no tối ngày đi dạo đầu trên xóm dưới, phá xóm phá làng không làm chuyện gì nên thân. Cả nhà nó chỉ biết tính tiền, trong đầu người nào cũng chỉ nghĩ tới chuyện ăn xới ăn bớt lúa gạo của tá điền sao nó lại có thì giờ đọc ba cái thứ lạ lùng đó không biết?

“Vân Tiên cờ bạc tôi có nghe có biết, anh chàng Vân Tiên rành tất cả các môn từ bài cào, tứ sắc, câu tôm tới cu-di, xốc me, xổ đề… Còn Vân Tiên ghiền tôi chưa biết chưa nghe. Ðâu cậu đọc thử một đoạn coi ra sao.”

Cậu Hai như mở cờ trong bụng, tằng hắng lấy giọng rồi đọc, cũng ê-a như thằng Cò đọc thơ Vân Tiên thứ thiệt:

“Dân làng một lủ đông dầy,
Ai ai cũng hút thiệt rày chánh ti.
Tiên đánh Phong Lai thác đi,
Trong xe ai ngáp tiếng thì kêu la.
Thưa rằng Kim Liên Nguyệt Nga,
Không tiền mà hút tầm cha phủ đường.
Bị lủ ác đảng gian cường,
Bắt mà giựt nhựa toan đường hại nhân.
Xin theo về yết phụ thân,
Cha cho thẩu bạch báo ân tai nàn.
Tiên rằng quân tử nuốt khan,
Ngáp ghiền cú rũ theo nàng khôn đi.
Nàng Nga nghe nói vân vi.
Trao ống cho đó ta thì đền ơn.
Tiên rằng nhựa vỏ là hơn,
Làm sao giải đặng ghiền cơn bây giờ.
Trao ống Vân Tiên làm ngơ,
Nàng Nga trao nhựa chàng quơ nuốt liền…”

Nghe cách đọc trơn tru và đầy hứng thú của Cậu Hai, Năm Dậu bỗng thấy tội tội, chú an ủi mà mắt ngó ra hàng bông bụt ở ngoài xa lập loè đom đóm.

“Thôi bỏ mấy cái chuyện Vân Tiên nầy nọ đó đi. Ai có lý ai vô lý làm sao tách bạch cho phân minh. Sự việc trừu tượng càng bàn càng không cùng. Càng lý luận nhiều càng mắc vạ miệng, mích lòng nhau. Người biện thiệp được chúng nghe mà không trọng. Ngoa ngôn xảo ngữ hại lòng nhơn, tổn phước, cái tâm càng lúc càng sa-đà đi. Sẵn có đồ nhắm cậu đem lại hồi nãy, mai tới đây mình nhậu sương sương chơi. Nhậu lai rai ngày nghỉ cũng thú vị, nhưng phải có đồ ăn cho thẳng bụng để khỏi say. Làm thầy giáo làng nầy cả chục năm nay, giờ mới gặp được người chữ nghĩa như cậu là một. Ứng đối như lưu, sách vở bất luận cuốn nào cũng biết! Lóng trước tôi thường nhậu với ông thầy Huân đổi tới từ miệt Cờ Ðỏ, nhưng lóng rày ông ta ưa bàn bài thơ “Con Cóc” mà nói là hay, bài ca dao “Thằng Bờm” mà nói về tinh thần vô nhiễm, vô cầu, vô úy. Nghe bắt muốn cải, làm bữa nhậu mất hứng.”

Ðêm Gò Xoài yên tĩnh, mấy cây gòn ngoài ngõ trái rụng nhè nhẹ, âm thanh mường tượng, quen lắm với cảnh vật mới nghe được mơ hồ. Trong nhà tiếng Thằng Cò nói vai Ba Bành trong thơ-tuồng Trương Ngáo vang vọng ra tới ngoài nầy. Nó rán gân cổ lên xuống bổng trầm làm cũng ra tuồng bộn:

“Thiếp nay Liễu thị, thêm hiệu Ba Bành. Việc làm hồ hổn quá chằn tinh, nghề đôi mách xứng hơn xốc lá. Như thiếp khéo biết làm nem làm chạo, tài cũng hay bán bộ bán thuyền…..” * * *

Năm năm trời trôi qua kể từ ngày thằng Thành không léo hánh tới nhà con Kén nghe nói thơ nữa. Tới mà làm gì. Má nó làm sao dám hỏi con Kén cho nó. Thiếu tiền nhà người ta ngập đầu nay lại tính che mặt mo tới hỏi con gái người ta về làm mọi cho mình hay sao? Nó còn gặp con nhỏ cả chục lần nữa sau bụi môn gần sàn nước của một người lối xóm trong vòng nửa năm sau đó. Lần nào bên vai áo nó cũng ướt mèm nước mắt với tiếng khóc rưng rức của con Kén. “Thằng cha cậu Hai mua lòng ông già tía em dữ quá. Hai người nhậu say ly bì mỗi tuần hai ba lần. Em bị đòn không biết lần thứ mấy rồi. Bầm dập mình mẫy hết. Anh tính sao thì tính, chớ cái điệu nầy láng cháng em phải làm vợ thằng cha cậu Hai đó. Tía em hỏi ngày một… Nhiều khi đổ liều, cho đánh, bất quá chết là cùng nhưng tội nghiệp bà nội quá. Mỗi lần thấy bà năn nỉ tía bớt tay em không cầm được nước mắt.” Nghe ẻn nói nó thiếu điều muốn đạp đổ hết thế giới nầy cho tang hoang, nhưng ngó lại phận mình hèn mọn bọt bèo, không quyền thế tài cán. Thúc thủ, tính không ra kế, nó ngồi thở dài thườn thượt.

“Mãng lo bận bịu mẹ già,
Tính toan không được ruột rà héo don.
Dẫn em đi trốn được rồi,
Mẹ già bỏ lại vui duyên sao đành?”

Chỉ biết cầm tay người yêu ngó vô hai ngôi sao trời đậu trong cặp mắt long lanh nước. Câu hát chờ cho trăng lặn mà Cậu Hai Xách-Lu dẫn ra ngày xưa hiện ra trong trí nhưng nó không lòng dạ nào làm gì hết. Vân Tiên bạt mạng của người bình dân ngoài đời đưa tay ra đặt vào chỗ không thể đặt, bóp vào chỗ không thể bóp thì được. Thằng Thành mới lớn lại đương buồn rười rượi, ruột gan nát ngướu đâu có tay nào để đưa ra, đành làm thứ Vân Tiên sách vở, nghiêm chỉnh trong vòng đai lễ giáo. Lần nào cũng vậy, tới lúc sương xuống lành lạnh hay khi sao Mai chênh chếch mọc, con nhỏ mới bớt khóc, hai đứa bịn rịn chia tay hẹn hò lần tới.

Nay con Kén đã bận bịu con cái tay xách nách mang, không còn thấy ngại ngùng gì khi được thiên hạ kêu tưng là cô Phó Hương Quản như buổi đầu. Nó thì vẫn là thằng Thành đắp mương mướn, bẻ dừa thuê, tát đìa ăn công mớ tôm cá chót, làm những công việc không tên cho người làng trên xóm dưới. Miếng ruộng biền mấy công nhỏ xíu hai má con làm quần quật suốt năm mà huê lợi đâu có bao nhiêu. Làm thêm cái bàu rau súng, mỗi lần cắt bỏ mối, bèo cám bám đầy đầu đày cổ mà nghèo vẫn hoàn nghèo, nhà vẫn là căn nhà lá xiêu vẹo thuở nào khi nó mới chớm biết yêu.

Cậu Hai, chồng con Kén, ăn nói bẩu lẩu bô lô nhưng không thù vặt, lúc nào gặp nó cũng vui vẻ bổ xua, thấy nó mặt mày bí sị thì nheo nheo mắt thân tình như an ủi người bại trận. Có khi cậu còn đọc thơ: “Bắt lươn ai nắm đằng đuôi, bởi anh vô phận lươn chùi xuống hang” hay “Bầu sao anh để trên dàn, duyên anh xe lỏng em phụ phàng duyên anh”.

Lần nào nó cũng mỉn cười thông cảm với cái hể hả của cậu nhưng trong lòng lại có niềm vui riêng dầu rằng vết thương tình đổ mủ trở lại. Mẹ họ, tôi vô phận hay anh nhờ cha mẹ giàu có được cho đi học một mớ chữ, không nên thân nên hình gì nhưng so với người vô phước phải sống lòng vòng ở đây từ nhỏ tới lớn, anh cũng hơn được nhiều. Gặp thời bọn ngoại nhơn cần tay sai, nó cử anh làm chức nầy chức nọ trong làng trong xóm, anh nghiễm nhiên có chức có phận. Gia đình con Kén sợ bóng sợ gió, phần thầy Năm Dău thích làm xui với nhà giàu, ham nhậu nhẹt với anh nên gả ép con. Nó bị tía nó đánh đập chết đi sống lại bao nhiêu lần nó mới ừ anh có biết không? Thân người ta con gái mà đòn bọng, bầm dập tháng nầy qua tháng khác thì sao mà chịu cho thấu! Mẹ họ, tình tôi bời rời không dính, tơ duyên tôi xe lỏng lẻo bị tuột hay anh tước mối tơ duyên gắng bó của tụi tôi ra, xe cái tơ duyên áp đặt của anh vô đó? Tôi biết ruột gan con mèo của tôi mà. Bao nhiều lần ngồi cùng nhau dựa bụi môn, muốm ẵm muốn bồng, muốn nắn muốn bóp lúc nào cũng được, làm gì nó cũng cho cũng ừ mà tôi có thèm làm đâu. Còn y nguyên cho anh để ngày nay anh có dịp hí hửng. Ngó cuộc diện tôi biết hai đứa có tình yêu thì được nhưng duyên chồng vợ thì không ngơ. Các hữu kỳ phận. Quan trọng là cái tình, cái hồn của nó. Bây giờ tuy là chồng nhưng anh có biết cái tình, cái hồn nó nằm ở đâu đâu nà! Và lần nào cũng vậy, nó bắt tay bổ xua Thầy Hai Phó Hương Quản mà lòng thương hại cho kẻ đến sau. Dầu là đến sau trong tâm hồn một người con gái quê.

Nhiều lúc khi Thầy Hai Phó Hương Quản đi rồi, nó thơ thẩn ngâm nga “Vân Tiên ngồi dựa bụi môn, chờ cho trăng lặn…” rồi chưởi đổng:

“Mẹ họ, cái quí nhứt trong tình yêu, cái tình tứ tuyệt vời của đời trai là con mèo đầu đời của mình đồng lòng ra ngồi dựa bụi môn với mình, đồng lòng cùng ngồi chờ trăng lặn để nói chuyện sang đàng, tuy không đâu vô đâu nhưng thỏa lòng mong nhớ. Núp lén trong bụi trong bờ, đợi con gái người ta đi qua ơ hờ, làm ba cái chuyện kia thì hay ho gì đâu mà phải khổ công đợi chờ trăng lên với trăng xuống.”

Nó cười khan một mình. Má nó xán bịnh nặng mấy tháng rồi mất cả năm nay. Xóm Gò Xoài giờ đây mỗi bóng cây dáng nắng, từng ánh trăng con nước, từng tiếng vạc sành kêu hay cú rúc đều như chứa chất mối u tình nặng trĩu lòng nó, nặng nhưng vẫn còn đủ đẹp để lôi chưn nó lại không cho cất bước giang hồ tìm quên.
(Texas, Nov. 98)

Nguyễn Văn Sâm

TÔ HOÀI & CÁT BỤI CHÂN AI

Nguyễn Thiên Thụ

Sau 1945, Tô Hoài vẫn viết khỏe: Núi Cứu Quốc (1948), Ngược Sông Thao( 1949), Vượt Tây Côn Lĩnh (1949), Đại Đội Thăng Bình (1950), Chính Phủ Tạm Vay (1951), Xuống Làng (1951), Truyện Tây Bắc (1953) , Cứu Đất Và Cứu Mường( 1954), Tào Lường (1955), Khác Trước (1957), Mười Năm (1958), Thành Phố Lê Nin ( 1961), Vỡ Tinh (1962), Tôi Thăm Căm Pu Chia (1964), Con Mèo Lười (1964), Miền Tây(1967), Nhật Ký vùng Cao(1969), Tuổi Trẻ Hoàng Văn Thụ(1971), Người Ven Thành (1972), Cát Bụi Chân Ai (1990).
Các tác phẩm của Tô Hoài hầu hết là văn tuyền truyền, tô vẽ cuc kháng chiến và xã hội chủ nghĩa tươi đẹp. Tô Hoài đã đáp ứng những yêu cầu của đảng cho nên ông được các phê bình gia cộng sản khen ngợi. Ngược Sông Thao ca tụng chiến dịch Tây Bắc, như trận Phố Ràng, đồn Dòm, Đại Bục, Đại Phác.Vượt Tây Côn Lĩnh ca tụng trận đánh ở trên ngọn Tây Côn Lĩnh rét buốt. Đại Đội Thăng Bình, ca tụng một đại đội hoạt động ở vùng địch hậu. Chính phủ Tạm Vay nhắm phục vụ chính sách thuế nông nghiệp. Truyện Tây Bắc được giải nhất năm 1954-1955 của hội Văn Nghệ Việt Nam. Truyện Khác Trước tố cáo phong kiến, địa chủ, và ca ngợi đảng . Nói chung, đường hướng sáng tác của ông là đi theo chủ trương của đảng, theo đơn đặt hàng của đảng.
Tô Hoài có nhiều đề tài. Có năm đề tài trong các tác phẩm Tô Hoài:
- Thôn quê Việt Nam: Khác Trước, Mười Năm, Người Ven Thành v. v..
- Tây Nguyên: Truyện Tây Bắc ,Tào Lường , Miền Tâyv.v..
- Các nước xã hi chủ nghĩa: Thành Phố Lê Nin, Tôi Thăm Căm Pu Chia
- Hồi ký, bút ký: Vỡ Tỉnh, Xuôi Sông Hồng, Cát Bụi Chân Ai v.v..
- Truyện thiếu nhi; Con Mèo Lười, Vừ A Dinh
Ngoài ra ông có một số về bài về lý luận văn học, và kinh nghiệm viết văn.
Đề tài Tô Hoài tâm đắc nhất là Tây Nguyên. Ông đã ăn dầm nằm dề tại các vùng Tây Nguyên sống với các dân tộc Tày, Mông, Thái cho nên ông đã từ thực tế mà viết nên Truyện Tây Bắc , Tào Lường, Miền Tây. . .
Trong các truyện miền núi, Tô Hoài đã viết về các phong tục của đồng bào miền núi như tục ở rể, đi ở cuông, chơi hang, tắm suối nước nóng, tục uống rượu, thổi khèn, thổi sáo, đánh pao v.v..Tập TruyệnTây Bắc của Tô Hoài đã được giải thưởng của hội Văn Nghệ Việt Nam 1954-1955. Truyện này gồm ba truyện ngắn: Cứu Đất Cứu Mường, Mường Giơn, Vợ Chồng A Phủ, trong đó truyện Vợ Chồng A Phủ được đảng khen ngợi, đem làm tài liệu giáo khoa bậc trung học. Pà Tra làm thống lý( chánh tổng, lý trưởng) ở Hồng Ngái, cho bố Mị vay tiền cưới vợ. Bố Mị trả nợ hoài không hết. Mị bị bắt về làm vợ A Sử, con trai của Pà Tra. Mị sống khổ sở. Một hôm A Sử đi chơi, bị A Phủ đánh trọng thương. Pà Tra bắt A Phủ phạt vạ một trăm đồng. A Phủ phải đi ở suốt đời trả nợ. Cọp ăn con bò của Pà Tra. Pà Tra trói A Phủ, Mị cởi trói cho A Phủ, rồi hai người trốn đi. Truyện này có mục đích tố cáo chế độ phong kiến trên miền núi. Có một điều đáng nói là trong kháng chiến chống Pháp cũng như sau 1954, khi cộng sản thi hành cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, thi hành chính sách kinh tế mới, thì đồng bào miền núi cũng bị cộng sản phá rừng , cướp đất, đãu tố, đuổi dân ra khỏi nơi họ cư trú, giết hại và bỏ tù hàng vạn người mà không một ai dám viết về vấn đề này!
Nói chung, Tô Hoài rất khôn, ông luôn luôn tô lục chuốt hồng cho chế độ, luôn ca tụng tinh thần chiến đãu của bộ đi, tình quân dân thắm thiết, chính sách nông nghiệp, chính sách dân tộc là những đề tài đã được đảng và nhà nước quan tâm. Có như vậy, Tô Hoài mới được đảng tin cậy. Tuy nhiên, cũng có lúc Tô Hoài bị đảng đánh tơi bời. Đó là giai đoạn 1957-1958, là giai đoạn người ta khủng bố văn nghệ sĩ. Cả một phong trào chống đảng bùng lên, Tô Hoài cũng thấy phấn khởi và viết hai bài:
- Tổ Chức Phát Triển Lực Lượng Sáng Tác Trước Nhất. Văn, số 13, ngày 2-8-1957.
- Góp Phần Vào Ý Kiến Vào Con Người Thời Đại. Văn, số 22, ngày 4-10-1957.
Qua hai bài này, Tô Hoài muốn đảng chú ý về đào tạo sáng tác trước, coi nhẹ việc học tập chính trị. Tô Hoài chủ trương không nên dán thuốc cao khi chưa có nhọt đầu đanh. Tô Hoài chủ trương để cho nhà văn sáng tác theo khả năng, theo ý muốn của nhà văn chứ không theo đơn đặt hàng của đảng. Sau khi đảng đánh Nhân Văn, Giai Phẩm, đảng thanh toán luôn Tô Hoài khiến ông phải viết bài tự kiểm thảo: Nhìn Lại Một Số Sai Lầm Trong Bài Báo Và Trong Công Tác đăng ở tạp chí Nhân Dân, ngày 12 tháng 3-1958.
Họa vô đơn chí, Tô Hoài cũng bị lao đao vì Mười Năm (1958). Có lẽ những tay công an văn nghệ muốn lập công cho nên họ ra sức đánh phá khắp nơi. Trong Mười Năm , tác giả chỉ muốn tô đen xã hội cũ, từ thời thực dân đến cách mạng tháng tám, nào là cảnh một làng thủ công bị phá sản vì kinh tế khủng hoảng, nào nạn chết đói năm 1945. Họ liền chụp mũ Tô Hoài, cho là Tô Hoài tiêu cực, Tô Hoài không nói đến lực lượng quần chúng, đến sự lãnh đạo của đảng, không tô vẽ những chiến sĩ cộng sản đãu tranh anh hùng. . .Họ phê bình Tô Hoài theo tự nhiên chủ nghĩa, không theo đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa!(Tác Giả Văn Xuôi Việt Nam Hiện Đại, 105)
Sự phê bình này quả thật hàm hồ. Sau vụ tấn công Nhân Văn, Giai Phẩm, những kẻ say máu lại ùa lên làm thịt Tô Hoài nhưng bọn họ cũng nhận ra cái cuồng điên của họ nên không trừng phạt nặng Tô Hoài.
Có lẽ loại hồi ký của Tô Hoài là có giá trị vì đó là sự thực cho dù là sự thực đã được tô chuốt. Nhiều người thích Một Số Kinh Nghiệm Viết Văn Của Tôi (1959) và Người Bạn Đọc Ấy (1964). Và gần đây, người ta cũng thích Cát Bụi Chân Ai của Tô Hoài.
Cát Bụi Chân Ai đuợc viết xong năm 1990, Hồng Lĩnh ở Hoa Kỳ tái bản 1993, sách dày 338 trang.
Tác phẩm này là một thiên hồi ký về cuộc đời tác giả. Phần lớn tác giả viết về mối liên hệ giữa tác giả và các nhà văn, nhà thơ khác. Ông dành rất nhiều trang viết về Nguyễn Tuân, quanh đi quẩn lại vẫn Nguyễn Tuân. Một phần viết về Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, về Tây Bắc, về phố phường Hà Nội, và về Nhân Văn, Giai Phẩm v. v..
Nhìn chung, Cát Bụi Chân Ai cho ta biết những điều như sau:
- Cuộc đời của ông và một số tác giả như Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính , Nguyên Hồng, Xuân Diệu v. v..
- Cải cách ruộng đất
- Chỉnh huấn
- Nhân Văn, Giai Phẩm
- Chính sách tàn ác và khắc nghiệt của cộng sản và nỗi đau đớn và tủi nhục của các văn nghệ sĩ dưới ách độc tài cộng sản.
- Chính sách đi thực tế của cộng sản.

1. Cuộc đời văn nghệ của Tô Hoài:

Trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài cho biết mối tương quan của ông với các nhà văn khác. Sau 1945, ông và Nguyễn Tuân có dịp gần gũi nhau hơn. Nhưng thuở trẻ, ông và Xuân Diệu rất thân mật. Vì Xuân Diệu đã xem Tô Hoài là tình nhân:
‘ Thỉnh thoảng Xuân Diệu lại lên nhà tôi. Vẫn nắm tay cả buổi, nhìn tha thiết. Xuân Diệu yêu tôi’ !( 191) Khi ở cơ quan trong rừng, Tô Hoài ngủ lại với Xuân Diệu ở nhà tập thể:
‘Bàn tay ma ở đâu rờn vào. Không phải. Tay người, bàn tay người đầy đặn, ấm ấm. Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt, lên cổ rồi xuống dần xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ. . . chẳng còn biết đương ở đâu, mình là ai, ta là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quít, cánh tay, cặp đùi thừng chão trói lại, dằng ra. Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, dữ dội dằng ngữa cái xác thịt kia’ (192-193).
Trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài nhắc nhở đến việc ông bị tố về hai bài viết trên báo Văn, khiến cho ông phải viết bài kiểm điểm rất dài trên báo Nhân Dân ngày 12-3-1958. Bài tự kiểm của ông có đoạn:
Sau đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, cũng như tất thảy anh chị em văn nghệ sĩ, tôi rất phấn khởi trước sự thành lập những hội riêng của các ngành.
Tôi thường nghĩ rằng: Đường lối thì đã có ở thư của trung uơng đảng gửi đại hội, đúng quá, rõ quá rồi. Chúng ta chỉ còn lo liệu sao cho nhau ra sức sáng tác mà thôi. một mặt khác, đối với những tư tưởng chính trị nguy hiểm và những quan điểm nghệ thuật sai lầm bộc lộ trên báo Nhân Văn và các tập Giai Phẩm của Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, tôi ngỡ ngàng trước phong trào quần chúng đãu tranh phản đối như vừa qua, họ phải sáng ra, như vậy là đã giải quyết xong những lệch lạc ấy.
Cái quan điểm nhẹ nhàng đến độ vô lý nguy hiểm như trên, đã đưa tới cái nhìn, cùng với những lý luận sai lầm trong chủ trương công tác của tôi ở hội Nhà Văn Việt Nam và cụ thể trong một số việc làm, một số bài viết của tôi( 127).
Bài tự kiểm của Tô Hoài đã đạt yêu cầu vì một là ông đã tố cáo Nhân Văn, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, và hai là ông đã tự tố cáo ông. Do đó, ông không bị tù tội hay treo bút như những người khác.
Về Mười Năm, ông viết:
Tiểu thuyết Mười Năm của tôi mới phát hành- một trong những ấn phẩm cuối cùng của nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Lập tức các báo mổ xẻ, phê bình. Quất mạnh và lý lẽ nhất, bài của Như Phong trong ban biên ủy báo Nhân Dân in trên báo ấy và bài của Trần Độ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Đấy cũng là một quyển sách còn sót lại thúc đẩy đóng cửa nhanh nốt nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
Rồi Võ Hồng Cương thường trực hội Văn Nghệ tổ chức một trận phê bình miệng. Nhà văn, nhà lý luận phê bình, nhiều cán bộ giáo dục tfrường đảng và tỉnh ủy Hà Đông tham dự. Mười Năm, một tiểu thuyết bộ ba của tôi viết về quanh cảnh và con người quê tôi, vùng nghề thủ công phía tây bắc thành phố vào ba thời nối nhau. Tiểu thuyết Quê Nhà nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in khoảng thập kỷ bảy mươi. Sự việc cuối thế kỷ trước, sau hai lần quân Pháp hạ thành Hà Nội, các làng ngoại thành vẫn nổi lên. Tiểu thuyết Quê Người, cuốn truyện dài đầu tay, xưa kia tôi viết cùng thời với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Giăng Thề, O Chuột. Quê tôi, lĩnh lụa nghề tổ bị lụn bại, người làng bỏ đi tha hương đất khách quê người. Tiểu thuyết Mười Năm cũng như một tiểu thuyết tự truyện, một đám thanh niên trong làng nhen nhóm phong trào chống đối đưa tới cách mạng.
Tiểu thuyết Mười Năm được viết ra, những năm đó tôi còn về ở Nghĩa Đô làng tôi. Văn Cao làm bìa, Văn Cao bắt đầu vẽ bìa để sinh sống. Làn nước chảy đìu hiu dưới chân cầu, thời gian trôi muời năm nước chảy qua cầu.
Có hai người phát biểu gay gắt nhất. Như Phong:
- Mười Năm có thể là một tiểu thuyết khá, vì đãy cũng là thực tế ở làng quê tác giả và chính tác giả. Nhưng nó đã được chuẩn bị và sáng tác trong thời kỳ Nhân Văn lũng đoạn nên bị ảnh hưởng xấu. Các nhân vật cán b cách mạng đã bị bóp méo đến thảm hại.. . .
Lưu Quyên dõng dạc quyết đoán:
- Tôi là người chịu trách nhiệm về Hà Đông thời kỳ bí mật ấy. Phong trào Hà Đông chúng tôi khi đó không phải như trong tiểu thuyết Mười Năm. Tôi phản đối người viết đã xuyên tạc sự thật lịch sử (203-204)
Sau vụ sấm sét này, Tô Hoài bỏ đi Lai châu để quên lãng.

2. Cải cách ruộng đất

Tô Hoài không dám nói nhiều, ông chỉ phớt qua các vấn đề như cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, và cải tạo tư sản. Ông không cho đó là những hạnh phúc mà là những vết thương cho đất nước mà cộng sản dã man đã gây nên để cướp tài sản và khủng bố nhân dân. Ông viết:
Đất nước như cánh đồng cày vỡ, chưa biết cấy hái ra thế nào. Vết thương cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức còn đỏ hỏn khắp chợ thì quê. Các thành phố đã bắt đầu cải tạo tư sản. Người ta hô trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng. Chẳng biết căn do của người ta ra sao, nghe khẩu hiệu đã sướng tai.. . . Bên ta đang cải tạo tư sản. Cách làm dịu dàng và lặng lẽ nhưng cũng xanh mặt!(57)

3. Chỉnh huấn

Tô Hoài đã kể lại việc chỉnh huấn trong chế độ cộng sản. Đây là chính sách tẩy não của cộng sản, phát xuất từ Trung quốc, là một hình thức tra tấn, hành hạ tình thần con người khiến cho nhiều người uất hận mà tự tử. Họ bắt văn nghệ sĩ, cán bộ, bộ đội, sinh viên, học sinh học tập chính trị, tự phê phán lỗi lầm của mình và bới móc lỗi lầm của người khác. Những lỗi lầm nặng nề nhất là tội lãng mạn, hủ hóa, mất lập trường giai cấp, mất quan điểm chính trị.
Mùa đông 1951,ở rừng Chiêm Hóa, tôi đã trải kiểm điểm, hai tháng tôi dự lớp đầu tiên chỉnh huấn gọi là theo phương pháp Hoa Nam. Lớp ấy nòng cốt các ngành các giới và địa phương. Trần Dần, Tử Phác phụ trách chỉnh huấn ở Hoa Nam, mặc áo bông xanh Sĩ Lâm. Lớp bế mạc, một số vượt Trường Sơn vào làm chỉnh huấn và cải cách ruộng đất khu V. Đoàn vào sâu hơn, mới tới miền đông Nam Bộ thì hiệp định Genève 1954 được ký kết.
Nửa đêm trở dậy, giữa rừng đốt hàng trăm bó đuốc, lấp loáng băng khẩu hiệu vải đen chữ trắng. . . . Bộc lộ khuyết điểm. . . . Thước đo lòng trung thành. . .Trời rét cắt ruột. Rừng đêm tối như mực. Con người bẩn thỉu lỗi lầm đầy rẫy. . . Chưa. . . Chưa đủ thành khẩn, làm lại.. . . lại làm lại.. . Mỗi lần làm lại, càng ngày càng áy náy âu lo. Cái chờ đợi được tổ thông qua cứ xa vời vợi. Chỉ có bộc l ti hủ hóa thì dễ nhất, không có cũng đấm ngực bảo có. Ở báo Cứu Quốc lại có một cậu nuốt lưỡi dao cạo. Chết rồi còn bị khai trừ vì tội trốn đãu tranh. Nguyễn Tư Nghiêm tham gia một đợt ội như đơn vị ra trận. Hai ngày bắt rễ, một ngày xâu chuỗi. Đi viên giảm tô họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm loay hoay cả tuần không bắt được rễ, không xâu chuỗi được bần cố nông nào. Nguyễn Tư Nghiêm hoảng quá phát dại, đi không nhớ đường về xóm. Suốt ngày vơ vẩn ngoài đồng, bắt cào cào,châu chấu ăn (114).

4. Nhân Văn, Giai Phẩm

Tô Hoài tỏ thái độ thù ghét nhóm này( Có lẽ là ông thù ghét họ thật sự chứ không phải vì chiến lược, chiến thuật. Nếu không ghét họ mà sợ nhà nước, ông không cần phải nói đến họ!). Trong bản tự kiểm cũng như trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài tỏ vẻ thù ghét Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi và Minh Đức (59). Ông cho rằng nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm hoạt động gây sự và có ý đồ chính trị . . .Báo Nhân Văn hô hào dân chủ và in một số sáng tác phong cách mới. . . (67). Dẫu sao, ông cũng đã viết lên được tấm thảm kịch của thời lúc bấy giờ, nhất là giai đoạn cuối của Nhân Văn, Giai Phẩm.
Báo Nhân Văn ra đến số 6 bị tịch thu tại nhà in. Nhà xuất bản Minh Đức đóng cửa. Hồi ấy số báo in còn ít, chỉ tính số nghìn. Nhưng một số báo bị cấm thì ầm ĩ ngay.Bây giờ cuối năm 1956 . .Các đoàn thể tổ chức kiểm điểm và kỷ luật những cán bộ tham gia viết và hoạt động cho báo Nhân Văn và tập san Giai Phẩm của nhà xuất bản Minh Đức.
Ở hội Nhạc, Đặng Đình Hưng bị khai trừ đảng. Văn Cao kỷ luật cảnh cáo, chỉ được ở hội Nhạc không ở hội Văn và hội Vẽ. Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm và Dương Bích Liên tuy chỉ làm cái bìa sách cho nhà xuất bản nọ nhưng chắc là những không khí sát phạt ở các buổi họp khiến các anh ngại,đã xin ra đảng. Trên có nghị quyết không khai trừ mà đồng ý cho được thôi. Có lẽ đến bây giờ Nguyễn Tư Nghiêm vẫn giữ cuốn sổ tay ghi đến nghìn thứ bao nhiêu những cuộc họp mà Nguyễn Tư Nghiêm không phải đi. Anh có vẻ hứng thú về những con số tỉ mẩn ấy. Khác Nguyễn Sáng. Nguyễn Sáng vẽ ký họa trên báo Nhân Văn một đầu người ở cổ có vết khía như cái lá. Người ta bảo chân dung Trần Dần và cái sẹo còn lại khi anh định tự vẫn. Nguyễn Sáng không đuợc bình huân chương kháng chiến. . . .Hoàng Cầm bị ra khỏi ban chấp hành, phải thôi việc nhà xuất bản, chuyển công tác về Sở văn hóa Hà nội. Phùng Quán nhờ có chú Phùng Thi, Chánh văn phòng bộ văn hóa đưa lên làm ở vụ văn hóa quần chúng. Nhưng ai cũng bức bối không yên. Ông thì mở quán rượu, thằng thì câu cá Hồ Tây, hiu hắt, dông dài cho tới năm về hưu.. . . Phan Khôi . . .ngồi yên. Mấy năm sau lâm bệnh mất. Đám ma bác Phan Khôi đi sau xe tang, chỉ có bác gái và các con với một mình chị Hằng Phương, cháu gọi bằng cậu. Trần Dần và Lê Đạt ra khỏi cơ quan, chuyên dịch sách cho nhà Văn Học. Nhà xuất bản Sự Thật thuê Trần Đức Thảo dịch sách lý luận kinh điển. Ban chấp hành hội Nhà văn quyết định truất ba năm hội tịch, đăng trên báo Văn Học, cơ quan của Hội. Nhưng đằng đẵng ba mươi năm không hội văn học nghệ thuật nào lôi ra xem xét lại. Sợ sệt, âm thầm, phấp phỏng, không phải chỉ ở tâm trạng mấy ông Nhân Văn cả nước mà lan tràn đến những Nhân Văn phố , Nhân Văn xóm chẳng bị kỷ luật gì, nhiều người không phải vì bài văn câu thơ, mà bởi vì lời nói bông lông, bốc trời chẳng hạn, bị quy chụp liền. Hữu Loan không ở nhóm nào cũng bỏ làm báo,về Thanh Hóa. Nghe nói là đi xe thồ và vào núi đập đá bán. Có những cây bút trẻ như Vũ Bão, như Lê Bầu, mấy truyện in sách, đăng Văn Nghệ Quân Đi tươi mát lắm cũng chột luôn (79-81).
Tô Hoài viết sai về Hữu Loan. Hữu Loan có viết trong Nhân Văn và Giai Phẩm . Tô Hoài cũng nhắc lại chuyện ông làm ở Hội Nhà Văn:
Năm 1957, đại hội thành lập các hội chuyên ngành. Hội Nhà Văn Việt Nam ra đời. Liền ngày 1958, hội tổ chức các cơ quan: báo, nhà xuất bản ( có Trần Dần, Hoàng Cầm Nhân Văn vẫn làm việc ở đãy, ban nghiên cứu sáng tác, ban liên lạc văn học nước ngoài ( có Lê Đạt), câu lạc bộ (để Nguyễn Tuân nói về Đôtôépxky và cười cợt mỉa mai, cứ đà này thành câu lạc bộ Pêtôphi lúc nào không biết!), quỹ sáng tác ( chẳng khác gì đánh trống gọi người đến lĩnh tiền, chia tiền). . . Trên cho là cơ quan Hội Nhà Văn đã bị xỏ mũi. Ở nhà xuất bản Văn Nghệ rồi chuyển thành nhà xuất bản Hội Nhà Văn, tôi cùng làm việc với Hoàng Cầm, Trần Dần. . . Nhiều người tố cáo: Họ làm cả, Tô Hoài chỉ phổng mũi lên ký duyệt. In Kim Tiền ( Vi Huyền Đắc), Truyện Ngắn Và Tiểu Luận (Thạch Lam), Nước Giếng Thơi ( Nguyễn Bính), Vang Bóng Một Thời( Nguyễn Tuân), tập thơ Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao.. . và đã quảng cáo in rất nhiều tác phẩm phức tạp khác. Những tác giả ấy, người thì có vấn đề, người thì đã di cư vào Nam và hầu hết viết trước cách mạng, tại sao đề cao những cái đã xếp xó nhiều đến thế? Tất nhiên là không bình thường, cái gì đây? (87)
Tô Hoài cũng nói đến báo Văn do Nguyên Hồng phụ trách.
Báo Văn mà Nguyên Hồng phụ trách đã in trong nhiều số những sáng tác còn khó chịu hơn nữa. Kịch ngắn gợi lại vết thương cải cách rung đất, những vở kịch của Hoàng Tích Linh ( Cơm Mới), Nguyễn Khắc Dực( Chuyến Tàu Xuôi), Chu Ngọc ( Ngày Giỗ Đầu), Ca Khúc Buồn Bã và Những Phát Biểu Lệch Lạc Về Âm Nhạc Của Tử Phác của Nguyễn Văn Tý, Rồi thơ Phùng Quán ( Lời Mẹ Dặn), truyện ký Phan Khôi ( Ông Năm Chut) và truyện Đống Máy của một cây bút trẻ gửI đến. Truyện tả một nhà máy thiết bị nước ngoài rồi để chất đống ngoài trời đến hỏng nát. Người ta nghi là của một kỹ sư nào nói xấu công nghiệp ta và tình hữu nghị quốc tế. Chúng tôi lo lắng thực sự. . .Năm trước đã nghiên cứu cả tháng rồi, bây giờ báo Văn lại sa vào hữu khuynh tệ hại như thế. Báo Văn phải ngưng xuất bản. . . tuần báo mới của hội đổi tên mới là tuần báo Văn Học (87-89).
Sau khi dẹp xong Nhân Văn, Giai Phẩm, hội Nhà Văn chấn chỉnh nội bộ, tờ Văn thành Văn Học. Họ triệu tập một cuộc họp ở ấp Thái Hà để thảo luận và kiểm điểm. Tô Hoài viết về cuc họp dài ngày này:
Cái tổ 18 có Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân và một số nhà văn vững vàng làm nòng cốt. Trêu ngươi ai , Kim Lân lại mới in truyện ngắn Con Chó Xãu Xí. Con chó cũng như con hổ hiền lành, không ai tin con chó chỉ là con chó, lại xấu xí nữa. Nguyễn Huy Tưởng đã về làm nhà xuất bản Kim Đồng. Đương bi tơi bời kiểm tra nhau mấy cái bản thảo, trong có truyện đồng thoại ao cá ao rùa chi chi của Sao Mai, lại con cá, con rùa, con ba ba, lắm con quá. Cũng chẳng ai bảo người vào tổ 18 ấy là một bọn hay khác cánh, nhưng cứ ang áng biết thế (89).

5. Nỗi uất hận của các văn nghệ sĩ

Một trong những điểm đặc sắc của Cát Bụi Chân Ai là Tô Hoài đã cho ta biết tâm trạng và nỗi nhục nhằn của các văn nghệ sĩ dưới chế đ cng sản. Nỗi đau khổ lớn lao của họ là bị cộng sản kìm kẹp trong sáng tác. Cuộc sát phạt Nhân Văn, Giai Phẩm và các cuộc chỉnh huấn, phê bình, kiểm thảo là những trận đòn mà các văn nghệ sĩ phải gánh chịu. Có lẽ trong các văn nghệ sĩ, Nguyên Hồng là người bị đao búa nặng nhất về tội để cho Phan Khôi, Lê Đạt viết chống đảng trên báo Văn, và chính ông viết truyện ngắn về con hổ Truyện Cái Xóm Tha Hương ở Cửa Rừng Suối Cát Và Con Hùm Bồ Côi mà bị kiểm thảo:
Một vòng người họp tổ, như các cụ trong làng ngày trước ngồi xếp bằng quanh chiếu tổ tôm. Những lời dao búa truy dồn. Thế là Nguyên Hồng khùng lên, khóc òa lên (88).
Sau vụ kiểm thảo, Nguyên Hồng tức bực đã lui về Nhã Nam:
Nguyên Hồng nói:
Ông đ. chơi với chúng mày nữa. Ông về Nhã Nam (134).
Sau đó ông xin về hưu non. Nguyên Hồng cười mà nói:
Ông đố đứa nào bắt chước được ông đãy! (136)
Tô Hoài kể lại nỗi đau khổ của Ngô Tất Tố:
Kim Lân kể dạo ở trên Chợ Chu, trong một cuc kiểm điểm, Ngô Tất Tố bị một anh xưa nay bác Ngô vẫn coi không ra gì, bây giờ phải nghe anh ấy sát phạt lên lớp. Ngô Tất Tố quệt nước mũi vào gốc cây, sụt sùì nói với Kim Lân: Làm người khó lắm bác ạ(112).
Tô Hoài đã nói đến những vụ hành hạ trong chỉnh huấn khiến cho người ta uất hận nuốt lưỡi dao cạo hay thắt cổ mà chết (113- 114).
Dẫu sao, trong đám văn nghệ sĩ cũng có người kiên cường bất khuất. Cứng cỏi nhất là Phan Khôi:
Chúng tôi ở Lao Cai về, cái lớp 21 ngày vừa hết, còn buổi sau cùng. Tiếng vỗ tay bế mạc rầm rầm ngập cái sân thượng. Cái ông lão Phan Khôi ngang như cua ưa chơi tri, chống ba toong bước ra về trước, còn quay lại nói mt câu thế nào đãy, dường như là người đi chợ Hôm sung sướng mua được quả chanh cốm, hỏi ra mới biết chanh xuất khẩu bị ế. ở người trồng chanh phải đưc ăn chanh ngon nhất chớ! Chẳng biết nói bóng gió hay nói vỗ mặt. Nhưng mà cách nghênh ngáo táo tợn của ông thì không lạ! (79)
Tú Mỡ là người có nhân có nghĩa. Ông chỉ trích đường lối chính trị của Nguyễn Tường Tam nhưng ông lại nói ông không quên ân nghĩa của Nhất Linh đã khuyến khích Tú Mỡ trên đường văn nghệ (114).
Tuy cẩn thận ngôn ngữ, một đôi khi Tô Hoài cũng tỏ thái đ chống đối đảng soi mói, bẻ hành bẻ tỏi và hành hạ văn nghệ sĩ. Ông đem những câu chuyện về Nguyễn Tuân để minh chứng những hành đng khắc nghiệt của các công an văn hóa, mà chính những tay lý luận Mác Lê này cũng đã tự hào xưng mình là gác cổng, giữ nhà cho đảng:
Những người có trách nhiệm đã bỏ công soi mói, bẻ hành bẻ tỏi chỉ là gò ý và trịch thượng. Thời chống Mỹ, Nguyễn Tuân viết một loạt ký về Hà Nội, Ta Đánh Mỹ Giỏi thế mà vẫn có những bút chì đỏ gạch từng quãng lưu ý cấp trên. Tôi gặp khó khăn bởi những chuyện ấy vì hội Văn Nghệ Hà nội đã in lần thứ nhất tập bút ký này. Công việc gọi là theo dõi ấy thật sự là đố kị, bề trên . . . (74)
Tô Hoài đã trình bày nhiều bức thư do Nguyễn Tuân viết cho ông. Một bức thư Nguyễn Tuân kể việc đi Hoàng Liên Sơn có đoạn tái bút:
Khi lên cao, mình có bị ong đốt, mặc dầu chẳng có trêu phá gì nó.
Tô Hoài bình luận câu trên như sau:
Cái câu tái bút ong đốt vu vơ chỉ gửi cho tôi này, chắc là nếu đăng báo, in sách cũng lại điêu đứng đãy. Ôi là trời, cái tính người ta thế, chứ xỏ xiên gì đâu(75).
Và ông viết thẳng về một thời cuồng điên của vấn đề này:
Có một thời những người theo dõi báo chí, xuất bản và phát hành sách báo được phong làm lính gác. Lính gác thì phải có việc, chẳng lẽ ăn lương chỉ đứng không. Nhưng thực ra người ta chỉ đọc a dua rồi đánh đòn hội chợ. Cấp trên hô người ấy, bài ấy có vấn đề. Tự nhiên người ta cảm thấy người ấy, bài ấy có vấn đề thật và người ta dò tìm từng câu từng chữ. Thế nào chẳng ra vấn đề! Bỗng khó chịu cả cách diễn đạt khác nhau của mỗi ngòi bút, thế là làm sao? Không biết vì tổ chức đặt ra công tác theo dõi làm cho thằng theo dõi thấy được làm thầy thằng bị ( được) theo dõi. Hay là tại vì thuở nhỏ còn đi học, nhà trường chưa bao giờ giảng cho học sinh hiểu biết bài văn có ý nghĩa, trước nhất bài văn phải hay đã. Viết văn thất bại nhưng vẫn làm nghề theo dõi được, đồng nghĩa tương tự thế. Cái nhìn sự sáng tạo cứ xuống dần theo thời tiết. Nguyễn Tuân cáu kỉnh nhẹ nhàng: Có khi mà bảo những những thằng theo dõi chúng nó viết đi, để ông với mày đi chơi, thế có phải biên chế bớt được người không!(76)
Căm thù bọn bồi bút, Nguyễn Tuân đã nói: bao giờ chết thì nhớ chôn theo tôi một thằng phê bình ( 186).
Bởi vì hành đng cuồng điên của những tay giữ nhà, gác cổng đảng mà nhà văn phải uốn mình, bẻ cong ngòi bút. Một số nhà văn phải dùng thủ thuật tránh né.Tô Hoài kể rằng trong chuyến đi Bắc Mê, Nguyễn Tuân đã sáng tác hai câu thơ:

Non xanh gõ hòn dá xanh,
Nửa năm nghe tiếng mõ canh Cổng Giời.

Trở về Tô Hoài viết kịch đăng Văn Nghệ, đặt hai câu ấy lên đầu bài mà ghi rằng ca dao cũ vùng Bắc Mê! Chính Nguyễn Tuân cũng dặn Tô Hoài có dùng thì phải đề thế(100-101).

6. Tố cáo cộng sản

Ở một vài nơi, Tô Hoài đã vạch ra những thủ đoạn gian trá của cộng sản. Dưới chế độ cộng sản, bất cứ món lợi nào, đảng đều thâu tóm. Đảng lấy tiền quốc cứu lụt, tiền UNESCO về tu bổ đền dài cung diện, tiền quốc tế viện trợ bỏ túi. Tô Hoài đã nói rõ việc đảng lấy 200 chiếc xe đạp mà nước Đức trao tặng các nhà văn Việt Nam:
Hội Nhà Văn Đức tặng hội Nhà Văn Việt Nam 200 trăm cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng vườn hoa cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô tuyến truyền hình Việt và của Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm hữu nghị quốc tế. Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chảng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe vào cái kho bộ Thương Nghiệp. Nguyễn Tuân hỏi mắng Nguyên Hồng: Đóng trò xong dắt mẹ nó cái xe đạp ấy đi, đứa nào làm gì được! Nguyên Hồng cười vuốt râu, đánh trống lãng: Tớ lên phim còn nhiều phút hơn cái thằng phiếc me vô danh trong phim Cánh Đồng Ma đãy (136).
Ông cũng tố cáo đảng trấn lột một nghìn bảng Anh của ông do bà thủ tướng J. Gandhi tặng ông khi ông qua thăm Ấn Độ:
Túi rỗng, tôi đi qua các nhà hàng không chào lại, như còn đương mãi nghĩ. Chả là tôi vừa nhận giải thưởng hội Nhà Văn Á Phi 1969, bà thủ tướng J. Gandhi trao tặng kèm mt ngàn bảng Anh. Nhưng trong va li tôi chỉ có tờ chứng nhận và chiếc huy hiệu bằng đồng. Mấy chai votca các bạn nhà văn cho, ai đến mừng thì nâng cốc vui sướng.là hôm sứ quán nhận tiền tôi đưa, có làm một tiệc nem rán mời khách (312).
Tô Hoài cũng nêu lên vụ tham nhũng ở một huyện. Một bí thư huyện làm sổ giả để lấy tiền nhà nước tiêu xài.
Lần lượt các chủ tịch, bí thư xã mua xe, xây nhà.Các ngành các giới lên huyện họp được được cấp tiền ăn như ăn cỗ gấp mười tiêu chuẩn.
Chánh văn phòng giữ sổ sách, chì tiêu văng mạng, chủ tịch, bí thư huyện, cả ban thường vụ nữa, không hề biết mặt đồng lương. Kho bạc nhà nước như chĩnh gạo nhà mình. Ai cũng ngập miệng nên cán bộ cả huyện và tất cả các xã ngậm tăm. Đến khi phải bắt đi tù vãn cả huyện ủy, ủy ban, hàng huyện mới ngã ngửa ra. Trong ban chấp hành chỉ có một đảng viên nữ không dính bởi sợ (289).
Tô Hoài có khi tỏ ra ngây thơ trong thực tế và trong chính trị. Ông không hiểu mánh khóe tuyên truyền bịp bợm của cộng sản. Cho đến năm 2000, Việt Nam vẫn chưa chế tạo được ô tô, chỉ sửa được ô tô, hay tân trang ô tô cũ, thế mà năm 1955, báo đăng quân giới cng sản lắp ráp được xe ô tô, và họ cho vài chiếc xe mới chạy ngoài đường, ông tưởng thật hoan hô ầm ĩ :
Sau đít xe, cái biển kẻ ba số không rồi đến con số một đỏ chóe. Nhà máy quân đội ta đã sản xuất được cả xe ô tô! Những đồ đồng nát đem chữa chạy lại mà có thể vỗ tay lên được chủ nghĩa xã hội thì đến ngơ ngẩn cả người thực!(72)

Văn của Tô Hoài trong Cát Bụi Chân Ai rất điêu luyện và bóng bảy. Ông cũng có cái giọng ngang tàng của Nguyễn Tuân. Tuy nhiên đôi chỗ ông quá hạ mình, ông thường dùng chữ Trên một cách kính cẩn khi nói về một ai đó :
Trên có sáng kiến lấy giấy và tiền. . . (64)
Trên có nghị quyết không khai trừ . . . (80)
Trên cho là cơ quan Hội Nhà văn.. . .(87)
Nói chung, tác phẩm của Tô Hoài trước 1945 rất có giá trị. Sau 1945, các tác phẩm ông viết đều là văn tuyên truyền, chuyên đề cao những việc không thật và người không thật. Chỉ trừ một số hồi ký, bút ký là mang ít nhiều sự thật, trong đó có Cát Bụi Chân Ai là khá nhất.


Văn Hóa Việt Nam
Tự Do, Dân Chủ, Không cộng sản cho Việt Nam

Lời cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:

"Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm !"
Boris Yeltsin:

"Cộng sản không thể thay đổi mà phải dẹp bỏ !"

 

Tháng Ba 2012
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 7    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Blog Stats

  • 4,184 hits

Top Clicks

  • Không

Tác giả

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.