You are currently browsing the daily archive for Tháng Sáu 11, 2008.

CUỘC ĐẤU TRÍ GIỮA BUSH VÀ HUSSEIN SAU NGHỊ QUYẾT 1441 CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN
                                                                                               

Trần Bình Nam
 Hôm Thứ Sáu 8 tháng 11 Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc với 15 phiếu thuận, nhất trí thông qua Nghị quyết 1441 buộc Iraq tự ý giải giới vũ khí hoá học, vi trùng và nguyên tử, nếu không sẽ lãnh hậu quả, có nghĩa Hoa kỳ và đồng minh sẽ giải giới bằng vũ lực.
Ba nước Pháp, Trung quốc và Liên bang Nga, một phần vì lợi riêng, một phần vì không muốn Hoa Kỳ hành động đơn phương làm lu mờ vai trò của họ là Ủy viên Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc có quyền phủ quyết, đã cật lực thương thuyết với Hoa Kỳ trong hai tháng qua (từ ngày 12/9/2002 sau khi tổng thống Bush đọc diễn văn trước đại hội đồng Liên hiệp quốc yêu cầu cộng đồng quốc tế phải hành động chận đứng các chương trình vũ khí giết người tập thể của Iraq nếu không Hoa kỳ sẽ phải hành động một mình) để đạt đến một bản văn lời lẽ mạnh mẽ như Hoa Kỳ đòi hỏi, nhưng trước sau vẫn qui định rằng trong trường hợp Iraq bác bỏ Nghị quyết hay chấp thuận thi hành nhưng vi phạm, Hoa Kỳ cũng chỉ được phéùp dùng vũ lực khi được Hội đồng Bảo an chấp thuận.
Nghị quyết qui định trong hạn 30 ngày Iraq phải báo cáo với Ủy ban Kiểm tra Vũ khí của Liên hiệp quốc (U.N. Monitoring, Verification and Inspection Commission UNMOVIC), với Cơ quan Nguyên Tử năng Quốc tế (International Atomic Energy Agency IAEA) và với Hội đồng Bảo an tất cả các chương trình liên quan đến ba loại vũ khí nói trên. Báo cáo sai, báo cáo thiếu, hay không thi hành nghiêm chỉnh Nghị quyết đều được Hội đồng Bảo an xem xét tìm biện pháp trừng phạt. Hai Ủy ban UNMOVIC và IEAE có nhiệm vụ bắt đầu cuộc kiểm tra trong hạn 45 ngày từ ngày ký Nghị quyết và báo cáo với Hội đồng Bảo an 60 ngày sau đó. Ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc có nhiệmvụ thông báo Nghị quyết này đến Iraq và yêu cầu Iraq thi hành nghiêm chỉnh và vô điều kiện. Iraq có 7 ngày để cho biết ý định thi hành hay không. Ông Chủ tịch UNMOVIC và ông Giám đốc IAEA báo cáo tức khắc cho Hội đồng Bảo an mọi vi phạm hay bị cản trở từ phiá Iraq không cho Ủy ban Kiểm tra làm tròn nhiệm vụ. Nghị quyết gồm một số điều khoản khắc khe khác như các cơ sở thuộc phủ tổng thống của Saddam Hussein đều được thanh tra nếu Ủy ban thấy cần. Trước khi Ủy ban đến thanh tra một nơi nào Ủy ban có quyền ra lệnh máy bay và xe cộ của Iraq không được ra vào khu đó để tẩu tán bằng chứng. Và Ủy ban có quyền mang nhân chứng và gia đình ra khỏi Iraq để điều tra để tránh sự đe dọa của chính quyền Iraq. Sau cùng Hội đồng Bảo an sẽ được triệu tập khi được báo cáo một sự vi phạm nào đó để quyết định biện pháp.
 Theo lịch trình ấn định bởi Nghị quyết, Iraq phải trả lời trước ngày 15/11/02, và phải hoàn tất bản báo cáo về vũ khí giết người tập thể của mình trước ngày 8/12/02. UNMOVIC và IAEA bắt tay vào việc kiểm tra kể từ ngày 23/12/02 và Hội đồng Bảo an sẽ nhận được báo cáo của Ủy ban Kiểm tra chậm nhất là ngày 21/2/2003.
 Đối với tổng thống George W. Bush, sự giải giới vũ khí giết người tập thể của Iraq chỉ là một phần của vấn đề. Vấn đề chính là Saddam Hussein phải ra đi và tại Iraq có một chính quyền thân Hoa Kỳ. Ông Bush không dấu diếm ý định này khi tuyên bố rằng: đã đến lúc nhân dân Iraq được quyền thoát khỏi kềm kẹp, tìm lại tự do và sống trong hy vọng … ngay sau khi Hội đồng Bảo an vừa thông qua Nghị quyết 1441. Đối với Saddam Hussein, trái lại, là làm thế nào để tồn tại và dù ở đâu vẫn có khả năng tạo sự bất an cho Hoa Kỳ.
Cuộc đấu trí giữa Bush và Hussein sau Nghị quyết ngày 8/11/2002 trên căn bản là vậy.Trong cuộc đấu trí này Saddam có thể sẽ nuốt nhục nhượng bộ bước đầu và thi hành Nghị quyết. Ông ta sẽ phải hy sinh các chương trình vũ khí giết người tập thể và cả các nhà khoa học của ông ta để Hoa Kỳ không thể kiếm cớ đánh Iraq. Cũng có thể từ năm 1998 sau khi đoàn thanh tra vũ khí do ông Richard Butler cầm đầu rút ra khỏi Iraq, Saddam Hussein đã cho chôn dấu thật kỹ các chương trình vũ khí của ông và sẽ chối phăng ông ta chẳng hề có vũ khí giết người tập thể. Có chỉ dẫn cho thấy Saddam Hussein chọn con đường phiêu lưu này.
Hôm Thứ Tư 13/10, hai ngày trước hạn kỳ trả lời, bộ trưởng ngoại giao Iraq ông Naji Sabri gởi ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan một bức thư dài 9 trang chấp nhận Nghị quyết 1441 và sẵn sàng đón đoàn thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc. Tuy nhiên không bỏ lỡ cơ hội truyền thông bức thư tố cáo tổng thống Bush và thủ tướng Anh Tony Blair đã bịa đặt chuyện vũ khí giết người. Bức thư xác nhận Iraq không có chương trình vũ khí hoá học, vi trùng và nguyên tử nào cả (sic). Trước đó Saddam Hussein đã chỉ thị cho Quốc hội Iraq do ông kiểm soát họp và công khai bỏ phiếu bác bỏ Nghị quyết của Liên Hiệp quốc.
Đó là hiệp một. Saddam Hussein luồn qua vòng tay tránh cú đấm đầu tiên của Bush. Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ có thể hy vọng rằng sự thi hành từng chữ Nghị quyết 1441 sẽ làm cho uy tín của Saddam Hussein giảm sút và sẽ bị các lực lượng chính trị đối lập lật đổ. Hoa Kỳ đã có chương trình nuôi dưỡng lực lượng đối lập này. Tuy nhiên các lực lượng đối lập này chưa đủ mạnh và việc mất các thứ vũ khí hoá học, vi trùng hay nguyên tử (nếu có) không làm cho bộ máy an ninh vốn trung thành tuyệt đối với Saddam Hussein yếu đi. Dân chúng Iraq vẫn còn ủng hộ Saddam Hussein và quân lực của Saddam Hussein cũng không vì thiếu các thứ vũ khí giết người tập thể mà yếu đi. Vũ khí chính yếu của quân đội Iraq là vũ khí cổ điển. Thế của Iraq đối với các quốc gia Hồi giáo chung quanh vẫn còn mạnh. Cho nên khả năng còn tồn tại của Saddam Hussein để vẫn lãnh đạo Iraq sau khi từ bỏ các loại vũ khí giết người tập thể có một xác suất rất cao.
Nếu sự việc diễn tiến như vậy, và nếu đoàn thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc của ông tân đoàn trưởng Hans Blix không tìm thấy dấu vết gì thì Hoa Kỳ sẽ có những khó khăn. Trước hết Liên hiệp quốc cho rằng Iraq đã thi hành các Nghị quyết của Liên hiệp quốc sẽ đề nghị giải tỏa lệnh phong tỏa kinh tế của Liên hiệp quốc trước đây mà Hoa Kỳ rất khó có lý do bác bỏ. Thứ hai Hoa Kỳ không thể duy trì mãi tại Trung đông một lực lượng quân sự có khả năng tấn công Iraq vì lý do kinh tế.
Saddam Hussein sẽ đánh hiệp hai khi Hoa Kỳ đã rút bớt quân về. Saddam Hussein sẽ lén lút xây dựng lại các chương trình vũ khí nguyên tử, hóa học và vi trùng của ông ta. Với khả năng trinh thám bằng vệ tinh và các hoạt động gián điệp khác Hoa Kỳ có thể biết được các vi phạm này, nhưng Hoa Kỳ không có lực lượng tại chỗ để tấn công Iraq, hơn nữa lại còn phải thông qua thủ tục quốc tế. Bản cũ soạn lại, và nhiều câu hỏi sẽ đặt ra: phản ứng của thế giới ra sao? Bush còn tại chức không? Cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ bước qua giai đọan nào? Hoa Kỳ còn duy trì chính sách cứng rắn hay không?
Nếu Hoa Kỳ chần chừ Saddam thắng hiệp hai. Nếu Hoa Kỳ quyết so găng (cuộc so găng cũng có thể xẩy ra sớm hơn nếu ngày 8/12/2002 tới Saddam Hussein gởi một báo cáo trắng đến Hội đồng Bảo an và Hoa Kỳ có bằng chứng trình Hội đồng rằng Saddam báo cáo láo) Saddam Hussein vẫn còn một chọn lựa cuối cùng là đương đầu với Hoa Kỳ trên chiến trường. Ông ta sẽ tung tất cả vũ khí giết người tập thể có trong tay giết càng nhiều quân nhân Mỹ càng tốt rồi rút lui vào bóng tối lãnh đạo một cuộc chiến tranh vừa du kích vừa khủng bố chống Hoa Kỳ như Osama bin Laden đang làm.
 Trong hai tháng 10 và 11 năm 2002 tổng thống Bush thắng lớn. Thứ nhất là lưỡng viện quốc hội (dù Thượng viện còn trong tay của đảng Dân chủ đối lập) thông qua Quyết nghị cho phép tổng thống dùng vũ lực. Thứ hai trong cuộc bầu cử giữa hai nhiệm kỳ vừa qua (5/11/2002), thông thường đảng cầm quyền mất ghế, đảng Cộng Hòa của ông đại thắng, chiếm đa số vững vàng tại hai viện quốc hội chứng tỏ nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ đường lối chủ chiến của ông. Thứ ba là với sự cương quyết cá nhân, cộng với sự ủng hộ của Quốc hội và nhân dân ông đã thuyết phục Hội đồng Bảo an đồng thuận thông qua Nghị quyết giải giới Iraq. Sau cùng Saddam Hussein, kẻ thù không đội trời chung với họ Bush vuốt mặt nhuợng bộ bước đầu.
 Nhưng vinh quang không làm ông bớt nhức đầu chừng nào Saddam Hussein còn tồn tại dù đã bị giải giới thật hay giả giải giới. Trong bối cảnh tâm lý đó, người ta dự đoán rằng Bush phải có một kế hoạch nào khác nữa ngoài Nghị quyết 1441 của Hội đồng Bảo an để chuẩn bị đánh một lá bài cao hơn lá bài của Saddam Hussein là nuốt nhục thi hành (hay vờ thi hành) Nghị quyết của Hội đồng Bảo an để tránh búa rìu nhất thời của Hoa Kỳ chờ cơ phục hận.
 Bush chỉ thắng cuộc đấu trí này bằng cách không cho Saddam Hussein một cơ hội nào tồn tại để phục hận.
Nov. 16, 2002
Binhnam@aol.com

http://www.vnet.org/tbn

 

Charter 2000: A manifestation of the unyielding spirit of the people of Vietnam

Dr. THONG DINH LE

Lecturer of Politics

University of Paris

Charter 2000′s Spokesperson (in charge of specialized matters) – Western Europe

Two years ago, CHARTER 2000 was proclaimed on November 26, 2000 at the FIAP centre, Paris – France. This historical document inherited the general spirit of CHARTER’77 of Czechoslovakia (which meant using the legal and democratic grounds of the Charter to struggle for freedom and democracy of the people, since both Charter 2000 and Charter’77 were based on the principles and articles of the Universal Declaration of Human rights).

Charter 2000 includes 5 Titles:

- Preamble

- Title I: Crimes and Human Rights Violations of the Vietnamese Communist Regime

- Title II: The Disastrous Effects of the Totalitarian Regime on Economic, Social and Cultural Domains

- Title III: A Common Struggle Front to Resolve the Matter of Vietnam

- Title IV: Struggling for the Fundamental Rights and Freedoms and the Vietnam Model of Democracy

- Title V: Implementation of Charter 2000

In comparison, the spirit of Charter’77 and Charter 2000 was almost identical: eliminating the violations of human rights and liberating the Czechoslovakian and Vietnamese peoples from a totalitarian regime. One difference, however, was noted: the embriogeny and formation of Charter’77 and that of Charter 2000: The Charter’77 embriogeny, drafting and proclamation were made inside Czechoslovakia, while the consultations and drafting of Charter 2000 were conducted by Viet patriots overseas. Vaùc lav Havel – one of three key Spokespersons of Charter’77 recalled the formation of Charter’77 as follows:

“…The first meeting for the purpose took place on December 10, 1976. The participants included: Mlynar, Kohout, Nemec, Komeda (owner of the house) and me (Havel). Afterward, there were two more meetings. The former communist party members together with Mlynar formed the Human Rights Committee and the Helsinki Committee. The human resources of these two committees were very limited.Therefore, we decided to form an association – the one of pluralism oriented. Equality for all the members was applied. Hejdanek suggested the Universal Declaration of Human rights be the base (for the document). Pavel Kohout proposed the document be called “CHARTER’77″. In the two consecutive meetings, we weighed each word carefully on the draft.”

Charter 2000′s embriogeny and drafting was completed overseas; therefore, massive debates and consultations as well as the formation of 7 groups of scholars, professionals, academics, community and human rights activists to take care of the drafting had been done for a period of 15 months before the World Conference to Proclaim Charter 2000 was held on 25-26 November 2000 at the FIAP Centre, Paris. Since the day of its proclamation, Vietnam and international econo-politics have gotten through dramatic changes that affect the Communist Party of Vietnam’s power:

- In Vietnam, the model of pluralism has day after day expanded, in the domain of economics and foreign affairs. Vietnam Head of State Tran Duc Luong had to sign the Communique ù of the Liban Francophone Summit to heighten pluralist democracy in Oct. 2002.

- Economic liberalization is inevitable in VN as institutional changes have to be performed to keep foreign investors in the country and the international finance institutions to get involved.


HIẾN CHƯƠNG 2000 : UY VŨ BẤT NĂNG KHUẤT

LÊ ĐÌNH THÔNG

HÌNH/PICTURE:
GS Lê Đình Thông – Phó Trưởng Ban Tổ Chức Đại Hội Paris trong ngày công bố Hiến Chương 2000 tại Hội Trường Quốc Tế FIAP, Paris, 26-11-2000/Dr. Le Dinh Thông – Lecturer of Politics, University of Paris, Assistant Head of the Local Organizing Committee, World Conference to Proclaim Charter 2000 (Nov.26/2000 Paris)

Cách đây hai năm, Hiến Chương 2000 đã được công bố tại Paris vào ngày 26-11-2000. Bản văn này đã đúc kết các bản phúc trình của bảy nhóm công tác gồm việc phân tích hiện tình chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước trước khi đề nghị một mô hình dân chủ Việt Nam. Hiến Chương này có thể được xét đến qua hai khía cạnh : lịch sử và chính trị.

I – BIỆN CHỨNG LỊCH SỬ CỦA HIẾN CHƯƠNG 2000 :

Trong phạm vi pháp lý, việc ký kết (conclusion) nhằm kết thúc cho một tiến trình trao đổi và thảo luận :

- Conclusions (viết ở số nhiều) là bản lý đoán (về hộ) hoặc biện minh trạng (về hình).

- Conclusion (số ít) là đoạn kết của một luận văn nói chung.

Hiến Chương 2000 cũng như bất cư một hiến chương nào khác có một tiến trình đảo ngược : việc ký kết mở đầu cho giai đoạn vận động nhằm thực hiện một hoặc nhiều mục tiêu được ghi trong hiến chương. Nói khác đi, hiến chương mang tính biện chứng (dialectique) diễn tiến trong lịch sử. Khác với các văn kiện mang đặc tính tĩnh (statique), hiến chương bao giờ cũng động (dynamique). Thời gian của hiến chương là : (Thời gian) = n + 2.

Ý nghĩa của từ ngữ ”Hiến chương” trong tiếng Việt mang dự phóng vận động thay vì hoàn tất :

- HIẾN (bộ Tâm) vừa có nghĩa là phép tắc, vừa có nghĩa là làm cho sáng tỏ.

- CHƯƠNG (bộ Lập : đứng thẳng) có nghĩa là sáng sủa.

Hiến chương nào cũng khởi đi từ hiện tình tăm tối nhằm đạt tới viễn tượng sáng sủa trong tương lai. Ta có thể dẫn chứng Hiến chương 1000 của Lý Thường Kiệt :

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (hiện tại) → Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (tương lai) (ký hiệu → nghiã là “tiến đến”)

Hiến Chương 2000 bao gồm 5 bước tiến :

Tội ác và vi phạm nhân quyền của chế độ cộng sản Việt Nam → Hệ quả của chuyên chính trên các bình diện kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam → Mặt trận kết hợp đấu tranh để giải quyết vấn đề Việt Nam →Tranh đấu cho các quyền căn bản của người dân Việt và mô hình dân chủ Việt Nam → Công cuộc thực hiện hóa Hiến Chương 2000.

1) Lược sử hiến chương đối chiếu :

Lịch sử hiến chương khởi đầu với Đại Hiến chương (Magna Carta) do các huân tước Anh gởi Vua Jean sans Terre ở Runnymede, gần Windsor (1215). Năm 1265, vua Henri III công nhận Hiến chương. Magna Carta qui định các quyền tự do tôn giáo của Giáo hội và các đảm bảo pháp lý cho người dân. Bản văn này trở nên biểu tượng của công cuộc tranh đấu chống lại quyền hành độc đoán. Tại Pháp có Hiến ước 1814 (Charte constitutionnelle).

Văn bản được coi là tiền đề cho Hiến chương 2000 là Hiến chương 77 của Tiệp Khắc. Vaclav Havel, phát ngôn viên của Hiến chương 77, đã nhắc lại sự hình thành của Hiến chương 77 như sau : ”.Buổi họp đầu tiên diễn ra ngày 10-12-1976 (hơn một năm sau ngày miền Nam lọt vào tay cộng sản), có Mlynar, Kohout, Nemec, người chủ nhà, Komeda và tôi (Havel). Sau đó còn hai buổi họp khác nữa. Các cựu đảng viên cộng sản cùng với Mlynar thành lập ủy ban Nhân quyền và một ủy ban khác lấy tên là Helsinki. Nhân sự của hai ủy ban này rất giới hạn. Vì vậy, chúng tôi quyết định thành lập một hiệp hội mang tính đa nguyên. Các hội viên đều bình đẳng. Hejdanek đề nghị lấy Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền làm cơ sở. Pavel Kohout đề nghị bản văn mang tên là Hiến chương 77. Trong hai phiên họp kế tiếp, chúng tôi cân nhắc từng chữ trong dự thảo.”

2) Nội dung Hiến chương 77 : Vào ngày công bố (1-1-1977), Hiến chương 77 có 257 chữ ký. Sau này, hiến chương có 1200 chữ ký. Nôi dung của hiến chương 77 như sau :

”Công báo số 120 ngày 23-10-1976 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc công bố Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã được Tiệp Khắc ký kết năm 1968, phê chuẩn năm 1975 và có hiệu lực ngày 23-3-1976. Kể từ ngày này, các công dân Tiệp Khắc có quyền và Nhà nước có bổn phận bảo đảm các quyền tự do ghi trong Công ước.

”Các tự do và nhân quyền được hai công ước quốc tế bảo đảm nói lên các giá trị của nền văn minh mà các lực lượng tiến bộ tranh đấu qua dòng lịch sử. Việc ban hành hai văn bản này góp phần vào việc phát triển việc tôn trọng con người trong xã hội.

”Hàng trăm ngàn công dân nhận thấy không được quyền ”giải thoát khỏi sự sợ hãi (libération de la peur) (được ghi trong phần dẫn nhập công ước), bởi vì họ bị bắt buộc phải sống trong sự đe dọa thường trực, bị mất việc nếu họ phát biểu ý kiến.

Trong phần kế tiếp, Hiến chương 77 tố cáo sự vi phạm quyền tự do học tập, quyền tự do tìm kiếm tin tức, việc tiếp nhận và phổ biến những thông tin và những tư tưởng, quyền tự do phát biểu, tự do tôn giáo.

Hiến chương 77 đã giải thích nguyên nhân tình trạng vi phạm các quyền tự do và các nhân quyền như sau :

”Việc hạn chế, ngay cả bãi bỏ hoàn toàn một loạt các quyền công dân phát xuất từ hệ thống định chế và tổ chức Nhà nước lệ thuộc các cấp ủy đảng và quyền định đoạt xuất phát từ vài nhân vật có thế lực trong bộ chính trị.

”Bộ Nội vụ xâm phạm đời sống riêng tư và gia đình, cư sở và thư từ. Bộ này nghe lén điện thoại, đặt máy vi âm trong các căn hộ, kiểm soát thư từ, theo dõi (filatures), xét nhà (perquisitons), thiết lập hệ thống chỉ điểm (réseau d’informateurs). Những người bầt đồng chính kiến bị truy tố về hình sự (thay vì chính trị), trong thời gian giam cầm, họ bị đối xử trái với nhân phẩm, phương hại đến sức khoẻ và tinh thần của người bị giam giữ.”

Sau phần mở đầu, văn bản viết : ”Hiến chương 77 là một cộng đồng tự do, không chính thức và mở rộng, gồm những người thuộc về chính kiến, tín ngưỡng và nghề nghiệp khác nhau, họp nhau lại bởi ý muốn tham gia với danh nghĩa cá nhân hoặc tập thể nhằm đòi hỏi các nhân quyền cũng như các quyền công dân phải được tôn trọng trên đất nước ta cũng như khắp nơi trên thế giới – các quyền mà hai công ước quốc tế công nhận có hiệu lực pháp lý căn cứ vào bản văn kết thúc hội nghi. Helsinki cũng như nhiều văn kiện quốc tế khác chống lại chiến tranh, sự bạo hành, sự áp bức được nói đến trong bản Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

”Hiến chương 77 được phát triển trên mảnh đất của sự đoàn kết và thân hữu giữa những ai cùng chia xẻ mối lo âu về số phận của những lý tưởng tự do, dân chủ.

”Hiến chương 77 không phải là một tổ chức, không có qui chế, cũng không có các cơ cấu thường trực ; không qui định điều kiện gia nhập. Tất cả những ai đồng ý với những nguyên tắc ghi trong Hiến chương, từng tham gia vào công việc soạn thảo và ủng hô. Hiến chương đều là thành phần của Hiến chương.

”Bởi danh xưng mang tính biểu tượng, Hiến chương 77 nhấn mạnh bản văn này đã được ra đời vào ngưỡng cửa năm mới, từng được tuyên nhận là Năm các quyền của tù nhân chính trị (Année des droits des prisonniers politiques), trong khuôn khổ năm quốc tế này, hội nghi. Helsinki sẽ phải xét đến việc thực hiện những cam kết trước đây ở Helsinki.

Chúng tôi tin rằng Hiến chương 77 sẽ đóng góp vào viễn tượng trong đó mọi công dân Tiệp Khắc đều sống và làm việc như những con người tự do (travailler et vivre comme des hommes libres).”

Hiến chương 2000 có nhiều điểm tương đồng so với Hiến chương 77. Cả hai đều ra đời nhằm chống lại chế độ toàn trị ”phát xuất từ hệ thống định chế và tổ chức Nhà nước lệ thuộc các cấp ủy đảng ; quyền định đoạt xuất phát từ vài nhân vật có quyền thế trong bộ chính tri Cả hai đều chống lại ”việc hạn chế, ngay cả bãi bỏ hoàn toàn một loạt các quyền công dân” nhằm ”giải thoát (con người) khỏi sự sợ hãi (libération de la peur) ; tiến tới tái lập ”các nhân quyền cũng như các quyền công dân” trên đất nước. Về cơ cấu, cả hai gồm nhiều thành phần xã hội, tôn giáo khác nhau trong một tập hợp dân chủ đa nguyên. Hai hiến chương đều lấy tên năm công bố làm danh hiệu : Hiến chương 77 được công bố ngày 1-1-1977, Hiến chương 2000 bắt đầu thiên niên kỷ mới nhằm mục tiêu tối hậu là tiến tới việc ”mọi công dân được sống và làm việc như những con người tự do (travailler et vivre comme des hommes libres)”. Cả hai đều ”không phải là một tổ chức, không có qui chế, cũng không có các cơ cấu thường trực ; không qui định điều kiện gia nhập. Tất cả những ai đồng ý với những nguyên tắc ghi trong Hiến chương, từng tham gia vào công việc soạn thảo và ủng hô. Hiến chương đều là thành phần của Hiến chương.”

Mười năm sau Hiến chương 77, tháng 4-1987, nhóm Hiến chương 77 đã gởi thư cho chủ tịch Liên Xô Gortbatchev yêu cầu Hồng quân Liên Xô triệt thoát khỏi Tiệp Khắc. Ngày 10-12-1987, tại thủ đô Prague, hơn một ngàn người tổ chức lễ kỷ niệm ngày ban hành Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tháng 3-1988, 5 000 người dự thánh lễ cầu nguyện cho tự do tôn giáo. 21-8-1988, 10 000 người biểu tình chống lại việc Hồng quân Liên Xô chiếm đóng Tiệp Khắc ròng rã 20 năm. Tháng 11-1989, nhiều cuộc biểu tình và đình công đưa đến cuộc cách mạng nhung (révolution de velours) nhằm bãi bỏ chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc.

Lộ trình dân chủ tại Tiệp Khắc là 12 năm, kề từ ngày công bố Hiến chương 77. Lộ ttrình dân chủ tại Việt Nam sẽ là bao nhiêu năm. Đó là đối tượng của phần II bàn về tình hình chính trị và kinh tế sau Hiến chương 2000.

II – DIỄN TIẾN CHÍNH TRỊ SAU HIẾN CHƯƠNG 2000 :

Kể từ ngày công bố Hiến chương 2000 đến nay, nhiều sự kiện trong nước và khu vực diễn tiến một cách biện chứng, tiến gần tới mô hình dân chủ đa nguyên.

1) Biểu nhất lãm dân chủ trong nước : Tại Việt Nam, mô hình đa nguyên ngày càng được khai triển trong nhiều lãnh vực – ngoại trừ lãnh vực chính trị – nổi bật hơn cả là hai lãnh vực kinh tế và đối ngoại. Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước có chế độ chính trị khác nhau, gia nhập nhiều tổ chức quốc tế như Khối Pháp ngữ. Trong hội nghị thượng đỉnh của khối này được tổ chức tại Liban vào trung tuần tháng 10-2002, chủ tịch Trần Đức Lương đã ký vào bản thông cáo chung đề cao dân chủ đa nguyên, coi đó là tiền đề của phát triển kinh tế.

Các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các định chế kinh tế và tài chính quốc tế không ngừng tác động chính phủ cũng như các đối tác Việt Nam để thực hiện tự do hóa kinh tế (libéralisation de l’économie), thiết lập hệ thống pháp luật thực sự, việc thay đổi các định chế (changements institutionnels) bao gồm việc tư nhân hóa, việc cải tổ hệ thống ngân hàng và việc thiết lập thị trường tài chánh. Ngoài ra còn phải kể tới hệ thống thông tin ngày càng phổ cập làm thay đổi nhận thức chính trị và kinh tế của người dân trong nước. Các yếu tố này là nguyên nhân dẫn tới các chống đối trong nhiều lãnh vực khác nhau : các cuộc biểu tình của nông dân miền đồng bằng và dân tộc ít người miền cao nguyên, các đòi hỏi tự do tôn giáo, việc tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ v.v. Các hình thức chống đối này đều là tự phát, không mang tính cơ cấu. Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều yếu tố khác như việc một số đảng viên cộng sản kỳ cựu phản tỉnh, tự nguyện từ bỏ những đặc quyền, lên tiếng đòi đảng cộng sản từ bỏ độc quyền lãnh đạo, tố cáo tệ nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng. Kinh tế thị trường đòi hỏi một hệ thống pháp luật độc lập trong khi chế độ cộng sản tỏ ra e ngại một hệ thống luật pháp có thực quyền. Vụ án Năm Cam chứng tỏ rằng quyền lực cộng sản cấu kết cùng các tổ chức tội phạm, hoặc các quan chức tham nhũng để củng cố quyền lực. Mô hình : Đảng – Tham nhũng – Tội phạm trở thành vòng luẩn quẩn, không có lối thoát.

Bản thống kê các hình thức phản kháng tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng, về lãnh vực (kinh tế, xã hội, tôn giáo.), về mục tiêu (chính trị hoặc dân sinh), về thành phần xã hội (nông dân, công nhân, tướng lãnh, trí thức) và về khu vực địa lý (nông thôn, cao nguyên, thành thị), so với những năm 90 (năm bắt đầu thực hiện kinh tế thị trường) hoặc đầu những năm 80 (kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa).

Các yếu tố này tiếp tục làm suy yếu quyền lực của đảng cộng sản trong khi nền kinh tế thị trường lâm vào tình trạng đình đốn, không còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nữa. Tình hình Việt Nam sẽ chuyển động một khi nền kinh tế trong nước lâm vào khủng hoảng. Khủng hoảng kinh tế tất yếu dẫn tới tình trạng xã hội hỗn loạn. Đó là tiền đề của cuộc cách mạng lụa (révolution de soie) bùng nổ, tương tự như cuộc cách mạng nhung từng xẩy ra tại Tiệp Khắc vào năm 1989.

Ngoài các yếu tố chính trị và xã hội trong nước còn phải kể tới trào lưu dân chủ hóa tại Đông Nam Á hiện nay.

2 ) Biểu nhất lãm dân chủ khu vực :

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAAN) thành lập ngày 8-8-1967. 35 năm sau, ASEAN tăng gấp đôi số quốc gia hội viên so với 5 nước thành lập, gồm 4,5 triệu kmỲ với dân số là 500 người. Năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Trong số 10 nước hội viên, các nước Indonexia, Philippin, Thái Lan lần lượt dân chủ hóa. Kampuchia từ chế độ cộng sản trở thành một vương quốc đa nguyên. Myanmar (Miến Điện) chấp nhận đối thoại với Bà Aung San Suu Ky, giải thưởng Nobel về Hòa bình năm 1990. Chỉ còn Việt Nam và Lào do đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo và không chấp nhập bất cứ một hình thức đối thoại nào với những phần tử bất đồng chính kiến (như trường hợp cố trung tướng Trần Độ). Vấn đề đặt ra là đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài sự độc quyền lãnh đạo đến bao giờ ?

Để trả lời câu hỏi này, ta có thể nhắc qua trường hợp Miến Điện. Bà Aung San Suu Ky đã nhận định về chế độ độc tài tại Miến Điện cũng như tại các nước Thế giới thứ ba như Việt Nam như sau : ”Các chế độ này tiếp tục cho rằng cắc nguyên tắc dân chủ tự do (principe de la démocratie libérale) là ngoại lai. Lối tuyên truyền rẻ tiền này nhằm củng cố chế độ đương quyền. Chế độ độc tài khiến các dân tộc này thua kém nhiều chục năm so với trào lưu tiến bộ của thế giới.”

Trong một tài liệu được công bố tại Nghị viện Âu châu ngày 10-7-1991 nhân lễ trao giải thưởng Sakharov 1999 về tự do tư tưởng, bà Aung San Suu Ky cho rằng :”Không phải quyền lực ngăn cản, nhưng là sự sợ hãi : nhà cầm quyền sợ mất quyền lực, người dân thấp cổ bé miệng sợ bị đầy áp. Hầu hết người Miến đều biết bốn hình thức hủy diệt : sự tham lam (chanda-gati), sự trả thù (dosa-gati), sự ngu dốt (moga-gati), nhưng điều tệ hại hơn cả là sự sợ hãi (bhaya-gati).

Sự sợ hãi mà bà Aung San Suu Ky nói đến chính là sự giải thoát (con người) khỏi sự sợ hãi (libération de la peur) được Hiến chương 77 nói đến ; hoặc lời kêu gọi ”Các con đừng sơ (N’ayez pas peur) Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II từng kêu gọi nhân dân Ba Lan nhằm hỗ trợ phong trào tranh đấu của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan. Ba Lan đã nhờ lời kêu gọi ”các con đừng sơ mà được giải thoát khỏi chế độ cộng sản. Tiệp Khắc đã nhờ ý tưởng ”giải thoát con người khỏi khỏi sự sợ hãi mà giải thể chế độ độc đoán. Tới lượt Miến Điện cũng nhờ triết lý vô úy (sans crainte) của bà Aung San Suu Ky, trước sau sẽ thoát khỏi độc tài áp bức.

Khi nhận định về bà Aung San Suu Ky, ông Vaclav Havel, phát ngôn viên của Hiến chương 77, đã cho rằng :”tiếng gào thét đòi tự do vang dậy khắp các nước độc tài châu Á (trong số có Việt Nam).

Kết luận : Tiết I mở đầu Hiến chương 2000 ghi rõ ”khi nhà cầm quyền vi phạm nhân quyền, người dân có quyền phản kháng trong sự ôn hòa. Nói khác đi, Hiến chương 2000 bắt đầu một thời đại mới : Thời đại Vô úy. Chính vì thái độ ”vô úy này, từ hai năm nay, các hình thức phản kháng trong nước ngày một thêm nhiều, thể hiện sự tranh đấu đa nguyên tiến tới việc khai tử chế độ cộng sản, một chế độ từng reo rắc sự kinh hoàng, khủng bố trên khắp đất nước suốt từ năm 1954 ở miền Bắc, và tại miền Nam từ 1975.

Viụ vậy, Hiến chương 2000 chính là Hiến chương ”uy vũ bất năng khuất”. Bản Hiến chương này tiếp nối truyền thống tranh đấu của dân tộc : trải qua các thời kỳ nhiễu nhương, đen tối, sau cùng thiết lập chế độ tôn trọng nhân quyền và dân chủ, đem lại cơm no áo ấm cho người dân.

Nhật nguyệt hối mà là minh

Kiền khôn bỉ mà lại thái

Nền vạn tuế xây nên chăn chắn

Thẹn nghìn thu rửa sạch lầu lầu. (Nguyễn Trãi) 

Trông người lại ngẫm đến ta
GS NGUYỄN CAO HÁCH

 
Một người thân ở VN vừa gửi cho tôi một bức ảnh chụp đền thờ Lý Bát Đế cực đẹp, và kể chuyện là một số du khách Đại Hàn đã tới làm lễ tại Đền và đã xưng là hậu duệ xa xôi của tổ tiên người Việt ngày xưa, đã di cư sang Đại Hàn ước ngàn năm trước đây, khi vua Nhà Lý thoái vị để nhường ngôi cho Nhà Trần.
Kẻ viết mấy giòng này đã may mắn được sang thăm Đại Hàn khoảng ho+n ba chục năm trước đây. Lúc đó, kinh tế Đại Hàn hãy còn gắn với nông nghiệp. Một kế hoạch phát triển bắt đầu được thi hành, – nhưng vẫn còn trong thời kỳ phôi thai -, vì Đại Hàn thiếu mọi thứ nguyên liệu, và ngay nhiên liệu cũng phải nhập cảng.
Phải nhập cảng đủ thứ: nguyên liệu kỹ nghệ, nhiên liệu cần nhất là dầu hỏa. Lấy đâu ra nhiều vốn (tất nhiên phải bằng ngoại tệ mạnh) để đầu tư và nhập cảng các máy móc và trang bị cần thiết?
Khó khăn nguyên thủy thì rất nhiều, nhưng chỉ chừng ba chục năm cần cù, ngày nay xứ Đại Hàn đã tiến bộ cực mau. Liên Hiệp Quốc mỗi năm xuất bản rất nhiều tài liệu thống kê, trong đó thống kê kinh tế chiếm phần quan trọng. Các xứ hội viên được xếp hàng thứ tự theo lợi tức trung bình đồng niên của các xứ. Xin để ý rằng đó là lợi tức trung bình, tính bằng cách chia tổng số lợi tức quốc gia cho tổng số dân chúng. Lối tính đó mặc nhiên hàm ngụ một lối phân phối cực kỳ bình đẳng, mặc dù trong thực tế, không có xứ nào ngày nay lại bình đẳng tuyệt đối đến như thế.
Đứng đầu sổ là các xứ Âu Mỹ. Đứng chót sổ là các xứ nhiệt đới Phi Châu. Việt Nam gần áp chót, nghiã là dân Việt là một trong những dân nghèo khổ nhất thế giới.
Nhiều người Việt Hải Ngoại đã về du lịch VN và nhấn mạnh rằng tại các đô thị lớn, xe ho+i lộng lẫy nối đuôi nhau ngoài phố. Vậy sao lại bảo là VN nghèo? Nhận xét đó rất hay, nhưng xin nhớ là chúng ta đang nói chuyện về lợi tức trung bình, – nghiã là nếu có những người ăn cho+i xa xĩ (ai cũng biết phần đông là cán bộ) thì lại càng cực kỳ nhiều những người dân Việt đói rã họng (vì lợi tức đầu người trung bình của VN đã hết sức thấp rồi, – khoảng ba trăm mấy chục đô/năm – cộng thêm sự chênh lệch lợi tức cùng cực giữa kẻ có với người không).
Hãy trở lại Đại Hàn. Trong bảng xếp loại lợi tức trung bình, Đại Hàn ngày nay đã vượt xa nhiều xứ của người da trắng Âu Châu.
Đó là một điểm ta cần phải hết sức chú ý.
Vì trường hợp Đại Hàn chứng tỏ rõ ràng là chỉ cần khoảng ba chục năm phát triển là một dân tộc có thể vượt một đoạn đường xa để đến giai đoạn thịnh vượng và tự lực tự cường đối với thế giới. Mà ba chục năm thì có gì đáng kể đối với lịch sử dài dặc của cả một dân tộc?
Các thống kê thường tính mỗi thế hệ khoảng ba chục năm.
Vậy nếu một thế hê. VN biết cố gắng; biết hy sinh cho dân tộc; biết theo đúng đường lối tối hảo trong cuộc tranh đua sôi động của nhân loại; biết hạn chế lòng tự kỷ quá lớn của mình nếu hiện nay mình cầm quyền sinh sát đối với kẻ khác; biết theo ý nguyện của dân; và nhất là biết đặt quyền lợi chung của cả nước lên trên tham lam tự kỷ… Nếu biết như thế thì dân tộc VN đâu có đớn hèn hay đần độn ho+n dân tộc Đại Hàn?
Trong suốt khoảng thời gian 1953 đến 2002, Bắc Hàn và Nam Hàn không hề gây chiến tranh với nhau. Hai bên vẫn thi đua, nhưng không phải là thi đua vũ khí để tàn sát.
Bắc Hàn ráng áp dụng lý thuyết Mác Lê vì tin tưởng rằng đó là một chià khóa nhiệm màu đưa dân tộc đến chổ vinh quang.
Nam Hàn không Mác Lê, nhưng cũng không tìm cách phá phách Bắc Hàn. Trái lại Nam Hàn theo đường lối phát triển dân chủ tự do. Vấn đề đầu tiên là dân phải được ăn no mặc ấm thì mới bắt đầu thời kỳ tiến bộ, có năng suất cao được.
Vốn đầu tư ở đâu ra? Nào có khó gì? Tren bình diện chung, có ít nhất hai co+ quan tài chánh hỗ trợ bằng cách cho vay nhẹ lãi: đó là Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund). Nếu hai co+ quan đó tài trợ vẫn chưa đủ thì vay Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asian Development Bank).
Điều kiện chính là muốn vay nhiều vốn để đầu tư thì phải trình bày một kế hoạch đàng hoàng để chứng tỏ rằng chính phủ mình có đủ khả năng và đáng tin cậy. Các điều kiện đó đâu có gì là quá khó khăn?
Nếu một chính phủ chuyên môn đục khoét công qũy để ăn cắp về làm của riêng, – nếu một chính phủ chuyên môn đặt điều nói sai sự thực đối với dân cũng như đối với ngoại quốc, – nếu tiền vay tại các co+ quan nói trên đây lại mau chóng lọt vào túi riêng của các nhà cầm quyền bản xứ, – thì chớ quá vội tin là nhân viên các co+ quan tài trợ quốc tế toàn là một bọn ngây tho+ ngốc nghếch “mình nói sao nó tin vậy”, – vì ngay dân Việt mà mình cũng bịp dễ như cho+i, – nếu toàn một hạng như thế cả, thì xin thôi, đừng nói chi chuyện nước non xứ sở.
Trở lại Đại Hàn, ngày nay dân họ giàu có gấp 10 lần so với mức sống trước đây một thế hệ .
Tại sao họ tiến mau qúa vậy?
Điều kiện thứ nhất là không thù ghét và chém giết lẫn nhau.
Xét riêng về mặt phát triển kinh tế, sự thù ghét và chém giết lẫn nhau cực kỳ bất lợi vì nó phá tan mọi kế hoạch và kéo sự tập trung tư tưởng và ý chí của cán bộ vào việc sát hại người đồng hưo+ng.
Điều kiện thứ hai là phải có nhỡn quang bao quát toàn diện, nghiã là đặt đường tiến của dân tộc mình vào hướng tiến của toàn thể nhân loại, tránh những mưu đồ riêng tây, nó chỉ làm trở ngại bánh xe tiến hóa của lịch sử.
Điều kiện thứ ba là người cầm quyền phải tỏ ra là người có thiện chí và tận tâmvới chức vụ, lại đủ khả năng để trông rõ những bước nào phải đi. Có thế thì tư bản ngoại quốc mới tin cậy và bỏ vốn vào đầu tư. Đó là điểm tối cần để tiến tới giai đoạn gọi là phát triển tự lực tự cường (take-off into self-sustained growth).
Bắc Hàn và Nam Hàn lý tưởng chính trị khác nhau, nhưng không phải vì thế mà họ mở chiến tranh phá hoại và giết lẫn nhau. Bắc Hàn tôn thờ chủ nghiã Mác Lê, nhưng cũng không vì thế mà đốt phá và hũy hoại mọi kế hoạch phát triển của Nam Hàn.
Ta hãy trở lại danh từ Đại Hàn để chỉ nước Nam Hàn (South Korea). Trong lúc Đại Hàn đang tưng bừng thịnh vượng thì tại Bắc Hàn nạn đói và chết vì đói đang lan tràn. Tổng Thống Đại Hàn liền hội họp với Chủ Tịch Bắc Hàn để sửa soạn con đường thống nhất quốc gia, – nghiã là Miền Nam tự nguyện chia xẻ sự giàu có với các đồng bào Bắc Hàn Mác Lê đang đói khổ. Con đường thống nhất và thịnh vượng đang mở ra cho Bắc Hàn Cộng Sản: nhiều bước đang được tiến hành (thể thao, thăm viếng du lịch, con đường xe lửa thống nhất nối liền hai bán đảo, hội nghị hai bên v.v.)
Còn Việt Nam thì sao?


Văn Hóa Việt Nam
Tự Do, Dân Chủ, Không cộng sản cho Việt Nam

Lời cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:

"Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm !"
Boris Yeltsin:

"Cộng sản không thể thay đổi mà phải dẹp bỏ !"

 

Tháng Sáu 2008
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
    Tháng 7 »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30  

Blog Stats

  • 4,417 hits

Top Clicks

  • Không

Top Posts

    Tác giả

    Follow

    Get every new post delivered to your Inbox.