You are currently browsing the category archive for the ‘Sơn Trung’ category.

Thuyết ‘ba đại diện’ của Giang Trạch Dân

Sơn Trung

Trong đại hội 16 của cộng đảng Trung Quốc, tháng 11 năm 2002, Giang Trạch Dân đã đưa ra thuyết ‘Ba đại diện’, và đặt nó ngang hàng với tư tưởng của Lê Nin, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Trước đây Marx, Lê Nin đều chủ trương công nhân là lực lượng chủ yếu trong cách mạng vô sản, là nòng cốt của đảng cộng sản. Chỉ có công nhân mới thực là vô sản, chứ không phải nghèo là vô sản. Thế nào là nghèo? Thế nào là vô sản? Nghèo là một danh từ ai cũng hiểu, ai cũng biết nhưng rât khó định nghĩa. Không có tài sản là nghèo. Đồng ý, nhưng ít nhất anh cũng phải có một bộ áo quần trong người, hai cánh tay, một bộ óc. Không ai không có tiền, ít nhất cũng có một số vốn: một hai đồng. Nếu đồng ý nhận định trên, thì ai cũng có tài sản từ một bộ quần áo cho đến ruộng ngàn mẩu, nhà trăm cái. Và ai cũng có tiền, từ một đồng cho đến một triệu đồng, một tỷ đồng. Vậy từ một đồng đến mấy đồng mới gọi là nghèo? Đối với tỷ phú, thì hạng một trăm ngàn là nghèo. Đối với hạng một đồng thì mười ngàn đã là giàu. Tuy không rõ định nghĩa giàu nghèo, và không cần làm một bản thống kê, ai cũng biết đa số dân chúng là nghèo. ‘’Trâu cột thì ghét trâu ăn’’Cộng sản đã lợi dụng điều này để chia rẽ giàu nghèo và đưa ra hứa hẹn tranh đãu cho công bình xã hội, chia ruộng đất tài sản cho dân nghèo. Chính vì phỉnh phờ như vậy mà nhiều người theo cộng sản, ngay cả những cậu ấm cô chiêu hay con nhà phú gia, hoặc khoa bảng đầy mình như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo! Chính vì khẩu hiệu lấy của nhà giàu chia cho người nghèo mà các bọn cướp ngày xưa như đám Lương Sơn Bạc có nhiều người theo! Cải cách ruộng đất là thực hiện lời hứa này nhưng chẳng bao lâu đảng lấy lại ruộng đất và bắt dân làm nô lệ, làm tá điền trong những hợp tác xã. Còn thế nào là vô sản? Sau 1975, dân chúng miền nam mới bật ngữa ra khi cộng sản giải thích: theo Marx và Lê Nin, vô sản hay công nhân là những thợ thuyền làm trong những nhà máy hiện đại của tư bản. Những kẻ ăn trộm, ăn cắp là vô sản lưu manh. Theo định nghĩa này, Việt Nam không có bao nhiêu vô sản, may ra chỉ những thợ làm hãng Ba Son, nhà máy dệt Nam Định hay công nhân mỏ than Hòn Gai trước 1945 mới là vô sản thứ thiệt. Như vậy, ông Hồ chí Minh, thợ làm trong tiệm ảnh, và phụ bếp dưới tàu thủy, ông Võ Nguyên Giáp, cử nhân, giáo sư trường tư thục Thăng Long, ông Đỗ Mười hoạn heo, ông Võ Chí Công tuần phu, Lê Duẩn bẻ ghi tàu hỏa, Trần Quốc Hoàn là vô sản lưu manh. . . đều không phải là vô sản hay công nhân. Vả lại công hay nông, bản chất chẳng khác nhau bao nhiêu mặc dù Marx và Lê nin đề cao công nhân, cho rằng vì làm việc chung trong công xưởng ( nông dân sống riêng rẻ) nên công nhân có ý thức tranh đãu cao hơn ( công nhân dễ bị xách đng biểu tình, đình công). Ở Trung quốc, nông dân nhiều hơn công nhân, công nhân chỉ là một thành phần rất nhỏ, làm sao lãnh đạo nông dân? Mao thấy Marx và Lênin sai lầm vì ngay ở Nga, nông dân bao giờ cũng chiếm đa số, cho nên Mao cải lại Marx và Lê nin, đưa ra thuyết công nông là hai giai cấp tiên tiến trong cách mạng vô sản. Nhưng rồi Mao cũng chỉ là một bạo chúa, một tên tội đồ trong lịch sử Trung Quốc vì y đã gây ra bao tội ác và đưa đến bao đau khổ cho nhân dân trong quốc. Đặng Tiểu Bình thấy Mao sai lầm bèn bỏ ý thức hệ cộng sản, đưa ra khẩu hiệu’’ mèo trắng mèo đen đều tốt miễn là bắt được chuột’’. Chính Đặng Tiểu BÌnh, người thân tín của Chu Ân Lai cũng bị Mao va bọn tứ nhân bang bỏ tù vì tội thiên hữu, chống đảng. Sau khi Mao chết, Đặng lại ngoi lên, đưa ra chính sách mở cửa, tư hữu hóa, cải cách cơ cấu kinh tế cho nên Trung quốc ngày càng đi lên. Đặng Tiểu Bình già, chết, quyền trao tay Giang Trạch Dân. Vẫn là theo tục lệ truyền ngôi chứ không bầu cử như tây phương. Giang Trạch Dân tiếp tục chính sách đổi mới của Đặng Tiểu Bình. Nay thì Giang Trạch Dân đưa ra thuyết ‘’ Ba đại diện’’, nghĩa là đảng cộng sản nay công nhận tư sản ngang hàng với công nhân và nông dân. Mao cho nông dân ngang hàng với công nhân là một điều trái với Marx, Engels và Lenine nhưng vẫn có thể được. Nhưng đến Đặng Tiểu BÌnh với thực dụng chủ nghĩa, bắt tay tư bản và tái lập tư hữu là những điều hoàn toàn trái ý thức hệ Mác Lê! Nay Giang Trậch Dân lại đi xa hơn nữa trong việc phản lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách công nhận tư sản, coi tư bản là đồng chí chứ không còn là kẻ thù như Marx và Engels đã chủ trương. Phải chăng cộng đảng Trung quốc sau Mao với Đặng Tiểu Binh, Giang Trạch Dân đã và đang thực hiện con đường tư bản hóa và dân chủ hóa một cách tuần tự và hòa bình? Điều này chúng ta phải còn chờ đợi.
Dẫu sao Đặng TIểu Bình và Giang Trạch Dân cũng đã thông minh và khôn ngoan mà nhận thấy sai lầm của Mao và cương quyết thực hiện cải cách. Nhờ Đặng và Giang mà kinh tế phát triển, dân Trung quốc chưa có tự do nhưng có cơm no áo ấm hơn thời Mao! Tuy nhiên, Đặng và Giang vẫn chưa cải cách chính trị, vẫn còn độc đảng, vẫn cộng sản thống trị, vẫn áp bức, đàn áp tôn giáo, cấm mọi thứ tự do vẫn chủ trương bành trướng và đe dọa hoà bình thế giới. Tư sản nay được vào đảng, được giữ các chức vụ cao trong đảng. Nhưng đó là thực tế hay chỉ là một thuật mua chuộc tư bản? Những thực tế sau đây cho phép ta nghi ngờ:
- Ngày nay Trung quốc, nạn hối lộ vẫn mạnh.
- Nạn con ông cháu cha vẫn là một truyền thống từ xưa.
- Tư hữu hóa hay tư hữu hóa quốc doanh chỉ là hình thình trao tài sản quốc gia cho tư sản đỏ.
- Công nhận tư sản là công nhận tư sản đỏ, là một hình thức công nhận con ông cháu chavà bè đảng của các lãnh chúa .
Nói chung, thêm tư sản hay không thêm tư sản, bản chất vẫn là thế, nhưng dẫu sao cái mồi vẫn thơm rất quyến rủ đối với những tư sản Trung quốc trong nước và nước ngoài để khuyến khích họ đầu tư thêm để làm giàu cho tư sản đỏ.
Cộng sản Việt Nam là một đồ đệ trung thành của Trung quốc. Việt Nam trước đây chống Trung quốc nhưng vẫn áp dụng chính sách khoán sản phẩm và chính sách mở cửa của Trung quốc. Nay Trung quốc theo chính sách ba đại diện, mai đây Việt Nam cũng chép nguyên văn. Việc này có lợi cho Việt Nam để đưa tư sản đỏ vào quyền lực đảng, đồng thời vuốt ve những nhà tư sản Việt Nam trong nước và hải ngoại.
Đó là những mánh khóe chính trị giả dối mà Việt Nam sẽ áp dụng. Chúng ta là những chiến sĩ tranh đãu cho chính nghĩa quốc gia không dễ lung lạc trước những mánh khóe vụn vặt của cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của chúng ta là tranh đãu cho tụ do và dân chủ thật sự, nghĩa là Việt Nam phải có đa đảng, phải có tự do tôn giáo, tự do báo chí .Tự do thật sự chỉ có được khi tiêu diệt cộng sản ác ôn tàn bạo.

ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC TỰ DO
                             

Sơn Trung

Gĩữa quốc gia và cộng sản có nhiều điểm khác biệt nhau. Riêng bàn về giáo dục, chúng ta sẽ có nhiều vấn đề quan trọng, không biết phải viết bao ngàn trang giấy mới hết. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày đôi nét sơ lược về tính tự do của nền giáo dục trong thế giới tự do.

Khi cộng sản tiếp thu miền Nam, tại đại học Văn Khoa Sài gon, một cán bộ cộng sản nhận xét rằng nền giáo dục đại học miền Nam yếu kém. Cả miền Nam không có một bộ sách giáo khoa đại học.
Thật vậy, ngoài Bắc, đảng lãnh đạo cho nên bất cứ ngành nghề nào cũng phải chịu sự kiểm soát của đảng. Trong giáo dục, các bậc tiểu học,trung học, cộng sản in ra những sách giáo khoa của đảng, bắt các giáo viên phải thực hiện đúng từng câu, từng chữ và từng ngày giờ. Ở bậc đại học toàn quốc đều thống nhất một bài bản do cộng sản đưa ra mà các giáo sư phải tuân theo răm rắp. Sách giáo khoa là pháp lệnh, không ai có quyền sửa chữa, cho dù thấy sai lầm. Vì vậy mà đề thi trong chế độ cộng sản thường là sai lầm.Người ta bảo dưới chế độ cộng sản, toàn quốc là một trại lính. Người ta mang đồng phục, đi đúng cùng một dáng điệu, miệng hô một khẩu hiệu, ăn uống giống nhau. Đảng cộng sản vạch kế hoạch năm năm, mười năm. Kết quả chủ trương nhảy vọt của Mao đã giết hàng triệu dân Trung quốc. Về giáo dục, đảng chọn sinh viên và quyết định các ngành nghề cho sinh viên. Con ông cháu cha thi vào đại học Y Dược hoặc kỹ sư, con em bá tánh bình dân thi đẩy qua sư Phạm. Trong chế độ Cộng sản, Sư Phạm là ngành bị khinh rẽ cho bên có câu ca dao bình dân:
Nhất Y, nhì Dược,
Bách Khoa tạm được,
Sư Phạm bỏ qua.

Phải thật lâu, sau 1980, đảng cộng sản mới để cho sinh viên chọn ngành nghề, và mở trường tư mặc dầu trường tư cũng là do cộng sản tổ chức, không phải do tư nhân như ở thế giới tự do.  Tại sao vậy? Tại vì đường lối vô sản chuyên chính, và do lòng tham, muốn độc quyền. Vô sản chuyên chính nghĩa là phải giết hại, lừa dối và khủng bố, tước đoạt mọi tự do của con người, bắt con người trở thành nô lệ. Đường lối này chỉ làm khổ trí thức, hành hạ nhà giáo, làm ngu học sinh, chỉ cốt làm cho người dân luôn sống trong bất an và sợ hãi, và bọn ngu dốt trong đảng mặc sức hạnh họe với chính sách phê và tự phê và công an giáo dục, công an văn hóa. Thí dụ, khi dạy sử, nếu giáo viên nào dám đề cao Việt Nam quốc dân đảng đã có công trong việc chống Pháp, hoặc Mỹ có công lớn trong đệ nhị thế chiến là giáo viên đó sẽ bị tù về tội phản động. Vô sản chuyên chính là dùng kẻ dốt, kẻ tin cẩn hơn là tài đức. Trong chế độ quân chủ và tư bản, con cái các thành phần đều được tự do học hành và thi cử, và tiêu chuẩn chọn người là tài đức, trong khi cộng sản chủ trương hồng hơn chuyên. Trong 1954, cải cách ruộng đất, họ đã giết, bỏ tù và sa thải các cán bộ thuộc giai cấp tư sản và điạ chủ từ trung ương xuống thôn xã . Rồi trong cải cách ruộng đất, họ giết một số nông dân và thương gia mà họ gán cho tội địa chủ và tư sản. Con cái địa chủ và tư sản không được học đến cấp hai, cấp ba. Chỉ con cái bần nông là vào đại học. Con cái bần nông 5, 6 điểm cũng vào được đại học, còn các thành phần khác phải đạt 16-18 điểm mới vào đại học. Vì lấy người học kém, cho nên các bậc trí thức xã hội chủ nghĩa hầu hết là dốt. Thực ra, cách chọn người theo tiêu chuẩn hồng hơn chuyên và vô sản chuyên chính cũïng chỉ là một cách buôn bán trong xã hội cộng sản. Thầy dốt dạy trò dốt, lưu truyền mãi thành trọng bệnh. Sau này, cộng sản muốn trí thức hóa vô sản, mở các lớp chuyên tu, bổ túc nâng một số chân tay thân tín hoặc vì hối lộ từ thợ thuyền lên kỹ sư và y tá lên bác sĩ. Kết quả là bác sĩ không viết nổi toa thuốc, hoặc cho thuốc thì chỉ quanh đi quẩn lại Vitamin B, hoặc Aspirin. Nhân dân gọi các trí thức xã hội chủ nghĩa là : dốt như chuyên tu, ngu như tại chức. Sau này, tham nhũng lan tràn, gian dối phổ biến, trong giáo dục, việc thi cử gian lận, mua bán bằng cấp từ phổ thông đến tiến sĩ phổ biến trong hàng ngũ đảng. Đó là do chính sách độc tài, vô sản chuyên chính và tham nhũng. Nói tóm lại, nền giáo dục cộng sản là nền giáo dục ngu dân và tham nhũng, không có lợi cho việc phát triển văn hóa, khoa học và đạo đức.

Thời Việt Nam cộng hòa, bộ giáo dục ra chương trình, nhưng các giáo viên có khá nhiều tự do. Họ có thể dạy bài này trước, bài kia sau, chú trọng bài này mà sơ lược bài kia. Thầy gíáo có thể cho học sinh đọc thêm những tài liệu không có trong chương trình. không nhất thiết phải đúng cùng một lúc. Thí dụ về môn Văn Chương Việt Nam, chương trình lớp 11 có Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Các thầy có thể day Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương trước, Nguyễn Du sau. Về Nguyễn Du thì dạy Kiều, ông thấy có thể trích giảng đoạn này hay đoạn kia. Tại sao vậy? Bộ giáo dục khi tuyển sinh viên vào trường Sư Phạm, hay tuyển giáo viên vào dạy, là bộ đã chọn người giỏi, đủ khả năng dạy các cấp. Bộ giáo dục Việt Nam tin tưởng ông thầy tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm là có thể dạy cấp I, cấp 2, và ông thấy tốt nghiệp đại học Sư Phạm có đủ khả năng dạy cấp 2, 3. Vả lại, trong chế độ tự do, bộ giáo dục tin tưởng khả năng và lương tâm giáo viên, và bộ để cho giáo sư và giáo viên có tự do lựa chọn, không nghi ngờ, kìm kẹp họ như trong chế độ cộng sản.Hơn nữa, trong chế độ tự do, bộ và ban giám đốc nhà trưòng không ai cho học sinh theo dõi giáo viên, và thầy giáo có quyền về việc chấm thi, còn trong chế độ cộng sản, ban tổ chức tức đảng cộng sản có quyền quyết định về số điểm và tương lai học sinh. Thí dụ, học sinh thuộc đoàn Thanh Niên cộng sản, hay con đảng viên cao cấp, thi học kỳ hay thi cuối năm chỉ 2, 3 điểm vẫn được ban tổ chức cho đỗ mà không cần hỏi ý kiến giáo viên. Ban tổ chức trong trường mặc tình mua bán và làm giàu trong việc thi cử và bán bằng cấp.
Về đại học, các giáo sư trong xã hội quân chủ hay trong chế độ dân chủ, đa số có bẳng Tiến sĩ hay Thạc sĩ. Họ là những người đạt đỉnh cao trong chuyện môn của họ cho nên họ có quyền giảng dạy theo ý muốn của họ. Lẽ tất nhiên , các giáo sư phải nhận sự phân công tùy theo chuyên môn và nhu cầu. Thí dụ, một vị tiến sĩ Sữ học tất nhiên sẽ dạy Sử học. Việc dạy sẽ tùy theo yêu cầu của trường. Vị ấy có thể dạy Thượng cổ sử hay Cận đại sử hay Việt Sử là do Phân khoa đề nghị. Trong Việt sử, giáo sư có toàn quyền quyết đinh như dạy lịch sử đời Lê hay đời Nguyễn.v. v. . . Mỗi giáo sư có quyền giảng dạy tự do, bộ giáo dục và trường đại học không hề kiểm soát về nội dung giảng dạy của giáo sư. Mỗi giáo sư có một sách giáo khoa riêng, không cần phải có một bộ sách giáo khoa cho toàn ban hay toàn quốc như trong chế độ cộng sản. Nhờ chính sách tự do, và chọn hoc sinh và sinh viên giỏi, chúng ta đã đào tạo những thợ giỏi, kỹ sư tài ba và học giả uyên thâm. Vì chính sách chuyên chính vô sản, mà chế độ cộng sản đào tạo những ông bà bác sĩ không viết nổi toa thuốc. Thí dụ vì ngu dốt hay vì tuyên truyền, một số thương binh cộng sản bị thương được bác sĩ cộng hòa băng bó vết thương và khâu bằng chỉ tự tiêu. Khi họ được trao trả về Bắc sau hiệp đinh Paris 1973, họ bị bác sĩ cộng sản mổ lại, bỏ các chỉ tự tiêu, cho rằng chỉ này là chỉ độc. Sau 1975, sau một thời gian bị nhồi sọ, các cán bộ không dám để cho các bác sĩ cũ khám bệnh. Nhưng sau một thời gian, họ thấy được tài năng thật sự các bác sĩ quốc gia. Các cán bộ cao cấp đã tin tưỏng vào bác sĩ cũ. Một cán bộ thành ủy đã hỏi một bác sĩ cũ:
-Ông có thể đào tạo những bác sĩ giỏi như ông không?
-Có thể được nếu các ông để cho tôi chọn sinh viên giỏi.

Gần đây, bang giao giữa Mỹ và Việt Nam được cải thiện. Người Mỹ đã mời một số cán bộ cộng sản qua Mỹ tham quan hay làm việc. Người Mỹ cũng cho phép một số người Việt sang thăm Hoa Kỳ. Khi về, một số người này đã lên tiếng chỉ trích nước Mỹ hết lời. Đó là việc tất nhiên. Không ai dại mà ra mặt ca tụng bọn đế quốc vì có thể bị kết tội là CIA , không những công trạng bao lâu và đảng tịch sẽ bị tước sạch mà còn bị tù đầy!. Mặc dầu bề ngoài Cộng sản xich lại với Mỹ để mưu lợi lộc, bề trong họ rất ghét Mỹ bởi vì tâm hồn họ đã bán cho Trung Cộng. Trong nhiều điều chỉ trich, chê bai xã hội Mỹ, có vấn đề khá bình thường, là vấn đề giáo dục các nước Âu Mỹ.
Một vị cán bộ sau khi đi Mỹ về viết rất nhiều về chuyến Mỹ du. Sau khi nghiên cứu đủ thứ về xã hội Mỹ, ông viết về giáo dục Âu Mỹ và cho rằng xã hội Âu Mỹ không chú trọng giáo dục bởi vì các học sinh trung học Âu Mỹ không đoạt giải nào về toán quốc tế, và dường như họ chẳng quan tâm gì về cuộc thi quốc tế này!.
Đúng vậy, Việt Nam và các nước khác thường chú trọng luyện thi Toán để cho học sinh dự giải quốc tế, và Việt Nam đã đoạt nhiều giải.Và họ cho đó là một điều tự hào.
Sự thật thì ông cán bộ Cộng Sản đã lầm. Xã hội Âu Mỹ là xã hội tự do và phóng khoáng. Họ để cho học sinh tựï do học tập, không bắt buộc nghiêm nhặt như xã hội ta trước đây. Các nhà giáo dục Âu Mỹ đã nghiên cứu tâm lý học sinh và thực tiễn giáo dục, và họ kết luận rằng để cho học sinh tự do học tập, trí tuệ tự do phát triển, thì sau này tài năng mới nẩy nở. Nếu gò ép như chuối dú non, chỉ hại mà không lợi. Nhờ chính sách giáo dục tự do, nền giáo dục Âu Mỹ đã đào tạo nhiều nhân tài, trong đó có nhiều nhà bác học lừng danh thế giới.
Trái lại, học sinh, sinh viên ta từ nhỏ cho đến lớn bị bắt buộc theo khuôn khổ, học ngày, học đêm, bị cha me và thầy giáo kiểm soát nghiêm ngặt. Trong khi đó, học sinh tiểu học và trung học Tây phương rất tự do. Học sinh về nhà cũng phải làm bài tập nhưng không nhiều như học sinh Việt Nam. Vì tiểu học, trung học đã làm mòn mõi trí tuệ, thân thể bệnh hoạn, chí khí tiêu mòn, học xong đại học là đã tiêu hao tất cả, chỉ biết hưởng thụ, hoặc kiếm tiền sinh sống, nuôi gia đình, sống qua ngày tháng, ít ai sau đại học còn tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, sáng chế như người Âu Mỹ. Do đó mà xã hội lạc hậu , khoa học không tiến bộ. Nhất là trong chế độ cộng sản, từ mẫu giáo, đến đại học, học sinh, sinh viên được nhồi sọ ca tụng đảng bác, văn học chỉ biết Hồ Chí Minh và Tố Hữu, thì trí tuệ lại càng non kém các thế hệ thời quốc gia và thời Pháp thuộc. Ngày nay, một vài tờ báo quốc nội đã đặt câu hỏi: Các học sinh đoạt giải toán quốc tế nay đi về đâu? Họ làm gì không ai biết. Và những học sinh chuyên toán, chuyên. (?).  . làm gì xuất sắc hay cũng chỉ thành nhà giáo bình thường hay những ông quan tham nhũng, hay những nhà bác học? Không thấy gì cả. Cộng sản chỉ chạy theo danh hão, để đánh bóng cái chế độ đã mục nát!

Việt Nam muốn phát triển quốc gia, phải phát triển giáo dục theo chiều hướng tự do, cởi mở, đồng thời với việc phát triển tự do và dân chủ trong văn hóa, chính trị, tôn giáo, kinh tế, xã hội. . .
                                                                                                                       

Nguyễn Thiên Thụ

                   

 

NGÔ THẾ VINH, VÒNG ĐAI XANH HAY GỌNG KỀM ĐỎ?

SƠN TRUNG

Ngô Thế Vinh sinh năm 1941 tại Thanh Hóa. Trong khoàng 1963-1966, ông là chủ bút tờ Tình Thương của trường Đại Học Y khoa Sai-Gon. Tốt nghiệp bác sĩ năm 1968, làm Quân Y trong Lực Lượng Đặc Biệt, và Biệt Cách Dù.  Sang Mỹ tu nghiệp, rồi trở về làm tại trường Quân Y. Sau 1975 bị tù 3 năm, về làm tại trường Vật Lý trị liệu. Khoảng 1983, ông sang Mỹ, là bác sĩ thường trú tại bệnh viện Đại Học New York, hiện làm việc tại một bệnh viện Nam California.
TÁC PHẨM
-Mây Bão (1963)
-Bóng Đêm (1964)
-Gió Mùa (1965)
-Vòng Đai Xanh (1971), Văn Nghệ, USA tái bản 1987.
-Mặt Trận Sài Gòn. Văn Nghệ, 1996.
-Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng. Văn Nghệ, CA, USA. 2000 .
Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra Anh ngữ như :
- Vòng Đai Xanh (The Green Belt ) do Nha Trang và William L. Pensinger, Raleigh, NC: Ivy House Publishing Group, 2004,
 - Mặt Trận Sài Gòn ( The Battle of Saigon ) US: Xlibris Corporation, 2005).
Tác giả đã được giải thưởng Văn Học Quốc Gia năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh, nhưng mỉa mai thay tác giả lại bị ra tòa vì tác phẩm Mặt Trận Sai Gòn do Trình Bày xuất bản năm 1971. Tác giả bị phạt 100.000 đồng và 1 đồng danh dự cho Bộ Nội Vụ.
Những kẻ trong ban giám khảo văn học lúc ấy là những người khôn ngoan hay non kém? Nhưng tòa án lúc này quả thông minh và đại lượng nếu so với cộng sản trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Tòa án và chính quyền không muốn trừng phạt ông, nhưng cũng không thể im lặng, để cho bọn ‘’phản chiến’’ và cộng sản tự do đánh phá, họ chỉ  ‘’ giơ cao đánh sẽ’’ không như chính quyền CS.
 Vòng Đai Xanh  và Mặt Trận Sài Gòn là hai tác phẩm đã làm tác giả nổi danh . Nổi danh vì tác giả nói thẳng, nói thực, và nổi danh vì vụ án của ông.  Hai tác phẩm này thuộc về chủ đề chiến tranh, đồng thời chỉ trích các phe lâm chiến. Nên nhớ lúc này chính quyền Ngô đình Diệm đã không tồn tại, sinh viên và Phật giáo tiếp tục tranh đấu, đồng thời cộng sản và các tay cơ hội chủ nghĩa trong đó phần lớn là những kẻ đã theo Diệm, Nhu và Thiệu  nay trở cờ cũng hoạt động ráo riết. Tạp chí Trình Bày và Thái Độ  là trung tâm của nhóm này. Một số sinh viên Y khoa , bác sĩ quân y  và y khoa hoạt động cho cộng sản. Con trai Trần Thúc Linh1 , sinh viên y khoa, thân cộng sản, bị cảnh sát bắt và dường như bị tra tấn mà chết tại Đại Học Y Khoa hay y tự tử?. Trong lúc này, quân Mỹ tham chiến, mặt trận cao nguyên bùng nổ. Các địa danh Dakto, Chuprong, Pleime là những điểm nóng. Cùng lúc này phong trào Fultro bùng lên đòi tự trị. Sau 1975,  đa số bỏ nước mà đi vì sợ cộng sản, còn ông, ông ‘’chọn ở lại’’ (Mặt Trận Sai Gòn, Nguyễn Mạnh Trinh  nói chuyện với Ngô Thế Vinh,  185).  Như vậy, ông là người can đảm, và đã có  giấc mơ hồng cho một tương lai mới.  Nhưng rồi ông lại bỏ đi sang Mỹ. Châu Tâm Luân, Trương Như Tảng,  Nguyễn Văn Hảo rồi cũng đi mặc dầu họ và ông có điểm khác nhau.
I. VÒNG ĐAI XANH

Tập tiểu thuyết này được viết ra khi tác giả phục vụ tại một đơn vị Biệt Cách Dù tại vùng Tây nguyên trong khoảng 1968, và được giải thưởng toàn quốc 1971.  Tiểu thuyết này khác hẳn với các bộ khác là nói về cuộc chiến tranh xảy ra tại các bản thôn người thiểu số . Hay nói rõ hơn, tác phẩm này viết về mối liên lệ giữa người Thượng với quốc gia, cộng sản và Mỹ. Theo lời giới thiệu ở trang bìa sách,  đây là một cuộc chiến tranh mà người ta đã bỏ quên.
Vòng Đai Xanh đề cập đến một cuộc chiến tranh bị lãng quên giữa một cuộc chiến tranh Việt Nam được nhắc nhở nhiều nhất trong lịch sử báo chí Mỹ.
Theo Ngô Thế Vinh , ông viết Vòng Đai Xanh  có mục đích chống lại quyển Green Beret của Robin Moore có nội dung ca ngợi những chiến sĩ Mũ Xanh LLĐB Hoa Kỳ, còn lại là sự xuyên tạc và hạ giá người Việt cùng sự kỳ thị tệ hại của các sắc dân Kinh Thượng ở cao nguyên  ( Mặt Trận SaiGòn, 10).
 Nhưng đọc kỹ, chúng ta không khỏi thắc mắc. Quân cộng sản giết 600 người Thượng, ông chỉ nói sơ qua về tội ác Cộng sản. Dường như ông muốn nhấn mạnh  kết tội người Mỹ nhắm mắt làm ngơ:
Có thể do Tacelosky bỏ rơi người Thượng để chứng tỏ sự bất lực của quân chính phủ với bọn Thượng tranh đấu khác.  . . chính Tacelosky thí 600 mạng để chứng tỏ một điều: hạnh phúc và an ninh của người Thượng chỉ có thể bảo đảm hữu hiệu bởi những người lính Mũ Xanh Mỹ (92).
 Kết tội một người, một tập thể như vậy là không đúng. Phải có một ban điều tra vụ này trước khi kết luận mặc dù đây là tiểu thuyết. Tại một nơi kia, cộng quân pháo kích làm hư hại một ngôi chùa. Vị sư trưởng làm đơn kiện vị tỉnh trưởng, bắt phải bồi thường. Tại sao cộng sản phá lại không bắt cộng sản bồi thường? Có thể ông sư là cộng sản nằm vùng, muốn gây khó khăn cho phe quốc gia. Cũng có thể ông bị cộng sản hăm dọa phải hành động theo  lệnh chúng. Còn Ngô Thế Vinh thì sao?
Ta thấy ông có dụng ý chính trị,  viết VÒNG ĐAI XANH để kết tội Mỹ nhưng ông đã ngụy trang dưới danh hiệu bảo vệ  danh dự Việt Nam cho nên đã qua mặt được những giám khảo mù thời ấy. . Ông kết tội người  Mỹ độc đoán và có óc thực dân. Khi người Mỹ đến Việt Nam, họ  đặt căn cứ tại Tây nguyên, và họ đã hành động như ‘’đây là một cuộc chiến tranh của họ. Một cuộc chiến được nuôi dưỡng và giải quyết theo quan điểm quyền lợi nước Mỹ (13).
Thứ hai là ông chỉ trích Mỹ gây chia rẽ Kinh Thượng. Cộng sản gây căm thù giai cấp, một số người Mỹ có óc thực dân đã gây căm thù chủng tộc, khiến người Thượng oán thù người Kinh.
Thứ ba là kết tội Mỹ xâm lược thế giới, mưu đồ lập vòng đai xanh khắp thế giới.  Họ muốn biến Cao Nguyện tự trị rồi biến thành tiểu bang Mỹ (35, 65-66).  Tác giả đã nhiều lần chứng minh lính Mũ Xanh đã giúp quân chính phủ đồng minh , đồng thời giúp quân phiến loạn chống chính phủ hợp pháp như tại Á Căn Đinh, Miến Điện (127, 129, 170).  Ông trung tá phòng Năm tố cáo vị mục sư Denman khả kính kia đứng đầu chủ trương sách động tại cao nguyên.
Bọn chúng lộ liễu lắm, mua chuộc mời bọn lãnh tụ Thượng tới nhà nói thẳng với họ là chính người Việt dù cộng sản hay không  cũng tìm cách tiêu diệt dân thiểu số, bởI vậy chỉ còn một cách là đi tới cùng con đường ly khai của họ ( 64).
Chính  nhân sĩ Nay Ry cho biết phe ly khai đòi hỏi một màu cờ, một quân đội riêng biệt, một quốc gia Đông Sơn ly khai (60). Ông cho thấy phe tranh đấu người Thượng  đã viết đơn gửi tổng thống Mỹ, và đòi văn kiện khác có bảo đảm của tòa đại sứ Mỹ mới chịu ra thương thuyết với chính phủ ’(35). 
Tác giả cũng tố cáo các mục sư tại cao nguyên  là gián điệp., là tay sai Mỹ nhằm dựng lên một miền cao nguyên ly khai.
Nội dung tác phẩm còn hướng về Việt Nam cộng hòa, ông chỉ trích các tướng tá Việt Nam bất tài.  Viên trung tá phòng Năm tố cáo một tướng máy bay làm thủ tướng, vênh vang tuyên bố :
Khi hòa bình trở lại chỉ cần hai giờ để dẹp tan lũ phiến loạn Thượng, một lực lượng ly khai mà ông coi là không đáng kể (64).
Một sĩ quan cho rằng tướng Trị không đủ sức đương đầu với cộng sản và Mỹ. Tác giả tố cáo tướng Trị
‘’ mất quyền kiểm soát bà vợ, ông tướng cũng bị chìm đắm vào nhiều vụ lem lấm, từ những chiếm hữu đất đai cho tới các vụ tham nhũng về kế hoạch mở mang An Khê (96).
Tác giả nói với Klux, một giáo sư Đức  về viện trợ Mỹ:  ‘’ảnh hưởng của đồng tiền viện trợ không tới được xa’’ (124).
Luận điệu của tác giả rất kín đáo. Ông mượn danh bảo vệ uy tín Việt Nam, tố cáo Mỹ nhưng ông cũng tố cáo các tay thân cộng vốn là chân tay Ngô Đình Diệm nay trở cờ.
Tác giả cũng kết tội những trí thức đội lốt Thiên chúa giáo, ’liên lạc với cộng sản’’ (111), ‘’làm lợi cho cộng sản’’ như Hoàng Thái Trung, cũng là người trong nhóm Trình Bày mà ông quen biết, luôn lên tiếng ‘’ bài Mỹ và bôi nhọ chủ nghĩa quốc gia’’ (104). Ông chỉ trích  các sinh viên do ‘’cộng sản giật dây’’.  . tự coi là ‘’công thần cách mạng nóng nảy và kiêu căng’’(106).
Ông làm như vậy để loè những người thật thà tin rằng ông là người quốc gia chống cộng.
  Cuối cùng, người Mỹ bàn giao trại Daksut cho Việt Nam, ‘’ là một phần trong kế hoạch rút quân danh dự được mệnh danh là Việt Nam hóa cuộc chiến’’ (177). Cả hai phía người Kinh và người Thượng  ‘’đều tự cảm thấy không có lợi lộc gì để tiếp tục cái trò chơi nhiều máu và nước mắt đó’’ (175).
Kết thúc bi đát. Tác giả bị tai nạn nghề nghiệp phải nằm bệnh viện sáu tháng. Davis bị trúng đạn vào đầu mà chết. (175). Rồi Mỹ rút khỏi Việt Nam.  Hickey nói:
Điều tệ hại là chúng ta  — Ồ người Mỹ –, đã cư xử với họ một cách đáng hổ thẹn khi có dấu hiệu rõ ràng cuộc chiến tranh đã bị thua. Chúng ta chỉ biết đứng dậy, rời bỏ cao nguyên trong hỗn loạn, bỏ rơi lại những người bạn tốt nhất của chúng ta’’ (iii).
Nói chung, tác phẩm này nhắm chống Mỹ và Việt Nam là chính.

II. Mặt Trận ở Sài gòn

Tập truyện ngắn này gồm 12 truyện ngắn, gồm những truyện viết trước và sau 1975.
 Nhan đề là Mặt Trận Ở Sài Gòn nhưng phần lớn là các trận chiến xảy ra tại Cao nguyên và miền Trung. Một số truyện viết sau 1975 tại Việt Nam và tại Mỹ. Giống như Phan Nhật Nam, ông mô tả các trận chiến rất sôi động.. Trong tập này, Mặt trận ở Sai- Gòn là truyện đầu, được dùng làm nhan đề cho toàn tập. Truyện này mở đầu kể việc chuyển quân về Sai Gòn. Đó là chuyện  hồi Mậu Thân (1968) ,  và chuyện cách đó tám tháng. Phần chính là kể về mặt trận Cao nguyên gồm các địa danh Dakto, Chuprong, Pleime, Đức Cơ. ..Trận chiến xảy ra ác liệt:
Chỉ riêng vùng Ngok Tobas, hàng tiểu đoàn quân chính phủ đã bị xóa tên. Và riêng phía địch quân , mới chỉ ở ngọn đồi 1007 -  tức là căn cứ hỏa lực 7, con số ba ngàn xác phanh thây cũng chẳng phải là một ước tính lạc quan quá đáng như truyền thống đài phát thanh chính phủ. Đó là chưa kể  mức sát hại của hàng trăm ngàn tấn bom do B.52 đêm ngày đổ dọc theo các ngả đường mòn xâm nhập. Và ở mùa mưa năm nay, cũng là đầu tiên trong chiến cuộc Việt Nam, và của cả thế giới, không lực Mỹ đã phải sử dụng thứ bom ‘’Demolition Mark’’ khổng lồ 15 ngàn cân Anh với sức tàn phá của một trái nguyên tử cỡ nhỏ, để hư vô hóa hy vọng chiến thắng của  địch quân (16)
Ông nói đến sự can đảm của các sĩ quan, và binh sĩ Việt Nam:
Người đầu tiên phải được tôi kể là tới là đại úy Thỏa, người chỉ huy trực tiếp ngọn đòi 1007, vóc người nhỏ nhắn, da đen sạm với vẻ mặt rắn đanh lại, đày nét phong sương gian khổ. Ông và một tiểu đoàn Biệt kích quân phải chịu đựng suốt ba mươi ngày dưới hầm sâu, trong những công sự phòng thủ dưới những cơn mưa pháo kích và nhiều đợt tấn công biển người của địch quân..  .  .  Kế đến cũng không thể không nhắc tới thiếu tá Bính, một phi công trẻ tuổi hào hoa nhưng vô cùng gan dạ. Trong suốt cuộc hánh quân, ông đích thân chỉ huy phi đoàn 215 trực thăng, đã yểm trợ hữu hiệu các đơn vị Biệt động quân và Nhảy Dù trong các giai đoạn phản công và tái chiếm căn cứ Hỏa lực 7. Mặc dù lưới đạn phòng không của địch dày đặc từ dưới đất, và các chiến hữu vẫn thực hiện ngày đêm hàng trăm phi xuất tải quân, và tiếp tế, đáp cả trên những hố bom mớI thả ngay giữa lòng địch quân còn nóng hổi. .   .(18).
Ông cho biết hình ảnh kinh hoàng về chiến địa:
hơi thối nồng nặc, chồng chất những tử thi hai bên.Xác của những người bạn bị oanh kích lầm với thứ hỏa tiễn mũi tên xóa tan cả mặt mùi. Xác của người phi công đưọc trực thăng móc ở rừng ra, héo rũ trên dây treo như cách người ta câu về những con thú (21).
Đoạn kết của truyện này nói rõ quan điểm chính trị của tác giả và đây mới là chủ tâm của Ngô Thế Vinh.. Ông cho rằng cuộc chiến ở Cao nguyên,  miền Trung và các nơi khác không quan trọng. Vấn đề chính là ở Sài Gòn, phải cải cách  xã hội tại Sài Gòn:
Từ ba mươi năm nay, đã và đang có quá nhiều anh hùng của chiến tranh trong khi lại quá thiếu vắng những chiến sĩ xã hội. Văy phải lựa chọn chiến trường nào? Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương mà đích thực chiến trường thách đố của họ phải là Sài Gòn (25).
Từ thời xưa, các nhà xã hội học và triết gia đã nghĩ đến việc cải  cách xã hội, nâng cao đời sống dân nghèo. Khổng tử chính là một nhà xã hội học, một nhà cách mạng vì Ngài chủ trương thế giới đại đồng và lo an sinh, phúc lợi cho nhân dân. Sau đó, Á Âu kim cổ nhiều triết gia đã chú trọng vấn đề này. Nhưng đó là vấn đề khó khăn, ai cũng thận trọng chứ không phải họ ngu hay mù lòa trước hố sâu xã hội. Marx cho rằng giai cấp tư bản đã bóc lột người vô sản, chỉ có giai cấp vô sản, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới giải quyết rốt ráo bất công xã hội và đem lại phát triển cho thế giới. Nhưng cuối cùng, chủ nghĩa cộng sản đã thất bại dù họ đã giết hết giai cấp tư bản, phong kiến và bắt nhân dân trong nước phải làm nô lệ cho cộng sản. Diệt giai cấp cũ thì giai cấp mới lại hình thành, hình thành từ trong chế độ cộng sản, tàn ác hơn phong kiến, và tư bản. Khẩu hiệu giải phóng giai cấp và công bằng xã hội đã mê hoặc nhiều người. Cuối cùng họ được gì? Chẳng qua là họ đem thân xác phục vụ cho tư sản đỏ. Ngoài ra, một vấn đề khác, chúng ta là nhược quốc, không thoát khỏi sự chi phối của ngoại bang. Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm đều là con cờ của ngoại bang. Và cải  cách xã hội sao được khi còn cộng sản phá hoại?
Một số truyện viết về Sài Gòn sau 1975 và cảm nghĩ của ông. Dường như trong tập này, ông viết truyện ngắn kém, ông viết theo kiểu tùy bút.. Trong Cựu  Kim Sơn chưa hề giã biệt nói về chuyến đi Mỹ đến Cựu Kim sơn, và  thuật lại Sài Gòn trong 30-4-1975, và chỉ trích ‘’nền văn hóa tham nhũng lâu đời’ của Mỹ khi một số người Mỹ ‘’ ra giá cho những tấm vé’’ máy  bay ra khỏi Việt Nam (88-89), và đoạn cuối là việc của một nhân vật ngày đầu đến Mỹ định cư. Ở đây ông cũng chỉ trích Mỹ, phê phán về ‘’thuế’’ ở Mỹ. Sao ông chỉ trích thuế? Nước nào mà chẳng thu thuế nhân dân!

III. Giấc Mơ Kim Đồng

Giấc Mơ Kim Đồng thì ông viết lung tung. Ông ca tụng truyện Tây Bắc của Tô Hoài và cho đó là ‘’ một câu chuyện đơn sơ cảm động’’ (67), và ông khen ngợi Kim Đồng. Đến đây ta thấy ông sai lầm hoàn toàn. Ông tỏ ra thích thú các truyện cộng sản. Kim Đồng cũng như Lê Văn Tám là người giả, việc giả, và hàng giả.  Lê Văn Tám khi thân thể cháy mà còn chạy xa được?  Vả lại việc bắt buộc hoặc dụ dỗ  nhi đồng vào chiến tranh là một tội ác chứ không phải là một giấc mơ đẹp. Trong chiến tranh Việt Nam, cộng sản đã bắt phụ nữ và trẻ con 15 tuổi cầm súng. Chúng lại xích lính vào xe tăng. Đó là  những hành động tàn ác. Làm sao ông lại tin vào những chuyện Lê Văn Tám, Kim Đồng? Cộng sản rất tàn ác với dân thiểu số miền Bắc, họ đã thực thi chính sách giết người, phá rừng, đốn gỗ lấy tiền bỏ túi. Ngay cả gia đình Chu Văn Tấn cũng chết thảm thương dưới bàn tay cộng sản. Hơn nữa, sao ông lại so sánh người thiểu số cao nguyên và thiểu số miền Bắc? Cộng sản đã cắt đất dâng quan thầy chúng là Trung Cộng. Sau 1947, Trung Cộng tóm thâu lục địa, mở rộng đất đai. Chúng mở các căn cứ huấn luyện quân sự tại biên giới. VớI lý do này, Trung Cộng đã chiếm rất nhiều đất đai Việt Nam mà ông Hồ đã cúi đầu tuân lệnh. (Việc này Vũ Thư Hiên cũng đã nói đến trong Đêm Giữa Ban Ngày). Vì muốn giữ bí mật, vì muốn chiếm đất chúng đã tàn sát và đánh đuổi các sắc dân tại đây. Đừng thấy một số người thiểu số miền Bắc ngồi ở Quốc Hội Việt Nam, đừng thấy các văn công Việt Nam biểu diễn các khúc ca miền núi, đừng đọc những truyện tô lục chuốt hồng  chế độ của Tô Hoài mà cho rằng Việt Bắc là thiên đường của dân thiểu số!
 Ngô Thế Vinh như một con bướm tàng hình, lúc ở cụm hoa này, lúc xuất hiện ở chòm hoa khác. Lúc thì ông chỉ trích Mỹ và Việt Nam cộng hòa, khi thì ông công kích Cộng sản. Đâu là điểm? Đâu là diện? Hoặc ông là con người bất mãn tứ phương, tả xung hữu đột giữa trận tiền?  Đâu là bản lai diện mục của ông? Và trong tương lai ông về đâu?
Nhưng ông rõ ràng đã ca tụng cộng sản. Ông đã già nhưng lại mơ Giấc Mơ Kim Đồng!
(Footnotes)
1
Trần Thúc Linh, dường như là phó tỉnh trưởng Ninh Bình trước 1945, di cư vào Nam, làm thẩm phán, thường lên tiếng chỉ trích quốc gia, thuộc thành phần thứ ba. Sau 1975, ông cũng như Trương Như Tảng và nhóm Giải Phóng Miền Nam bị cộng sản giải thể., Sau một thời gian nếm mùi cộng sản,  ông và gia đình  xin sang Pháp chữa bệnh rồi chết bên đó.

Thư ngỏ

         Tap chí Bên Kia Bờ Đại Dương ra đời từ 1999 để chào mừng thiên niên kỷ mới. Từ 2003, tạp chí này ngưng trệ vì tôi bị bệnh. Các web page thường không tồn tại lâu dài  vì nhiều lý do. Vì chủ nhân bận việc, vì sức khỏe, vì kỹ thuật, vì tài chánh, và cuối cùng là do sự quyết định của các server, vì họ có thể cắt bỏ trang web của chúng ta bất cứ lúc nào. Cuối năm 2007, nhờ chuyên viên chỉnh đốn lại và tập trung vào địa chỉ :<http://www.sontrung.com>, và chuyển một phần sang unicode.

            Nay tôi vẫn còn bệnh nhưng sẻ cố gắng tiếp tục Bên Kia Bờ Đại Dương, viết bằng Unicode.  Trước đây, Bên Kia Bờ Đại Dương là nguyệt san, nay chuyển thành đặc san. Tạp chí này đón nhận các bài gửi từ các bạn hữu gần xa, và xin phép được trích đăng những bài có giá trị từ xưa đến nay để truyền bá văn học, nghệ thuật  Việt Nam trong tinh thần quốc gia, khai phóng và vô vị lợi.

                                                                                                       

Sơn Trung


Văn Hóa Việt Nam
Tự Do, Dân Chủ, Không cộng sản cho Việt Nam

Lời cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:

"Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm !"
Boris Yeltsin:

"Cộng sản không thể thay đổi mà phải dẹp bỏ !"

 

Tháng Năm 2012
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

Blog Stats

  • 4,417 hits

Top Clicks

  • Không

Top Posts

    Tác giả

    Follow

    Get every new post delivered to your Inbox.