You are currently browsing the tag archive for the ‘Chính Trị’ tag.
![]()
Video 1:
http://www.youtube.com/watch?v=KrbtDo5RSPI
Video 2: Giới thiệu sách ở Toronto:
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=YVKS6wIZvZM
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dZstIwITbxM
- VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM – VĂN HỌC HIỆN ÐẠI (TỪ 1945 ÐẾN NAY)
4 tập, 2,200 trang của Nguyễn Thiên Thụ,
nguyên giảng sư Ðại Học Văn Khoa, Saigon, giáo sư thỉnh giảng tại Viện Ðại Học Cần Thơ, Vạn Hạnh, Cao Ðài và Hòa Hảo.
Tác giả đã mười năm nghiên cứu lịch sử văn học hai miền Nam Bắc ( trước 1975) và quốc nội, quốc ngoại ( hiện nay), đề cập khoảng 300 thi sĩ, văn sĩ, nhà báo và nhà nghiên cứu như Nhất Linh, Hồ Biểu Chánh, Ðông Hồ, Quách Tấn, Ưng Bình Thúc GIạ THị, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan VIên, HỒ Dzếnh, NGuyễn Tuân, Nghiêm Toản, Nguyễn Ðăng Thục, Thanh Lãng, Phan Khôi, Trần Dần, Văn Cao, Phùng Quán, Phùng Cung, Tố Hữu, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Thanh Nam, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Trần Hồng Châu, Bùi Giáng, Nguyễn Tất Nhiên, Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nhã CA, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Văn Trấn, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Ðặng Phùng Quân, Võ Kỳ Ðiền, Hồ Trường An, Nguyễn NGọc Ngạn, Hàn Song Tường, Võ Phước Hiếu, Trà Lũ, Trang Châu,…
Văn học Việt Nam hiện đại có nhiều điểu thích thú.Văn học hiện đại có hai đặc tính: tính lãng mạn và tính chiến đấu.
1. Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyên Sa, Phạm Thiên Thư, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên nổi danh vì những bài thơ tình.
2. Phan Khôi, Trần Dần, Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung, Phùng Quán, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng là những chiến sĩ tự do.
Có bốn đề tài quan trọng trong văn học hiện đại:
1.Chiến tranh Viet nam:
Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Lê Xuyên, Phan Lạc Tiếp đã chuyên viết về đề tài này..
2. Nhà tù Việt Nam:
Sau 1975, các sĩ quan Cộng Hòa và dân chúng đã bị tù . Phan Lạc Phúc, Hà Thúc Sinh, Nhã Ca, Nguyễn Ngọc Ngạn, Vũ Thư HIên, Nguyễn Chí Thiện đã viết những sự thực về nhà tù cộng sản.
3.Thực tế Việt Nam:
Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, Phùng Quán, Phùng Cung, Dương Thu Hương Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Văn Trấn, Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phước Hiếu, Vĩnh Hảo đã nói lên những sự thực đắng cay ởViệt Nam từ 1945 đến nay.
4 .Thuyền nhân:
Võ Kÿ Ðiên, Ðặng Phùng Quân , Hàn Song Tường đã thuật lại những hiểm nguy trên đường tìm tự do.
Giá toàn bộ 4 tập gồm cước phí:
Canada: 138 CAD
Mỹ: 123 USD
Quốc tế: 145 USD
Thư từ, chi phiếu xin gởi cho người nhận là TUYET HONG NGUYEN
45 Inverkip Ave
Ottawa, ON, K1T 4B8, CANADA
Email: sontrung@yahoo.com
Các hình bìa sách:


![]()
Thuyết ‘ba đại diện’ của Giang Trạch Dân
Sơn Trung
Trong đại hội 16 của cộng đảng Trung Quốc, tháng 11 năm 2002, Giang Trạch Dân đã đưa ra thuyết ‘Ba đại diện’, và đặt nó ngang hàng với tư tưởng của Lê Nin, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.
Trước đây Marx, Lê Nin đều chủ trương công nhân là lực lượng chủ yếu trong cách mạng vô sản, là nòng cốt của đảng cộng sản. Chỉ có công nhân mới thực là vô sản, chứ không phải nghèo là vô sản. Thế nào là nghèo? Thế nào là vô sản? Nghèo là một danh từ ai cũng hiểu, ai cũng biết nhưng rât khó định nghĩa. Không có tài sản là nghèo. Đồng ý, nhưng ít nhất anh cũng phải có một bộ áo quần trong người, hai cánh tay, một bộ óc. Không ai không có tiền, ít nhất cũng có một số vốn: một hai đồng. Nếu đồng ý nhận định trên, thì ai cũng có tài sản từ một bộ quần áo cho đến ruộng ngàn mẩu, nhà trăm cái. Và ai cũng có tiền, từ một đồng cho đến một triệu đồng, một tỷ đồng. Vậy từ một đồng đến mấy đồng mới gọi là nghèo? Đối với tỷ phú, thì hạng một trăm ngàn là nghèo. Đối với hạng một đồng thì mười ngàn đã là giàu. Tuy không rõ định nghĩa giàu nghèo, và không cần làm một bản thống kê, ai cũng biết đa số dân chúng là nghèo. ‘’Trâu cột thì ghét trâu ăn’’Cộng sản đã lợi dụng điều này để chia rẽ giàu nghèo và đưa ra hứa hẹn tranh đãu cho công bình xã hội, chia ruộng đất tài sản cho dân nghèo. Chính vì phỉnh phờ như vậy mà nhiều người theo cộng sản, ngay cả những cậu ấm cô chiêu hay con nhà phú gia, hoặc khoa bảng đầy mình như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo! Chính vì khẩu hiệu lấy của nhà giàu chia cho người nghèo mà các bọn cướp ngày xưa như đám Lương Sơn Bạc có nhiều người theo! Cải cách ruộng đất là thực hiện lời hứa này nhưng chẳng bao lâu đảng lấy lại ruộng đất và bắt dân làm nô lệ, làm tá điền trong những hợp tác xã. Còn thế nào là vô sản? Sau 1975, dân chúng miền nam mới bật ngữa ra khi cộng sản giải thích: theo Marx và Lê Nin, vô sản hay công nhân là những thợ thuyền làm trong những nhà máy hiện đại của tư bản. Những kẻ ăn trộm, ăn cắp là vô sản lưu manh. Theo định nghĩa này, Việt Nam không có bao nhiêu vô sản, may ra chỉ những thợ làm hãng Ba Son, nhà máy dệt Nam Định hay công nhân mỏ than Hòn Gai trước 1945 mới là vô sản thứ thiệt. Như vậy, ông Hồ chí Minh, thợ làm trong tiệm ảnh, và phụ bếp dưới tàu thủy, ông Võ Nguyên Giáp, cử nhân, giáo sư trường tư thục Thăng Long, ông Đỗ Mười hoạn heo, ông Võ Chí Công tuần phu, Lê Duẩn bẻ ghi tàu hỏa, Trần Quốc Hoàn là vô sản lưu manh. . . đều không phải là vô sản hay công nhân. Vả lại công hay nông, bản chất chẳng khác nhau bao nhiêu mặc dù Marx và Lê nin đề cao công nhân, cho rằng vì làm việc chung trong công xưởng ( nông dân sống riêng rẻ) nên công nhân có ý thức tranh đãu cao hơn ( công nhân dễ bị xách đng biểu tình, đình công). Ở Trung quốc, nông dân nhiều hơn công nhân, công nhân chỉ là một thành phần rất nhỏ, làm sao lãnh đạo nông dân? Mao thấy Marx và Lênin sai lầm vì ngay ở Nga, nông dân bao giờ cũng chiếm đa số, cho nên Mao cải lại Marx và Lê nin, đưa ra thuyết công nông là hai giai cấp tiên tiến trong cách mạng vô sản. Nhưng rồi Mao cũng chỉ là một bạo chúa, một tên tội đồ trong lịch sử Trung Quốc vì y đã gây ra bao tội ác và đưa đến bao đau khổ cho nhân dân trong quốc. Đặng Tiểu Bình thấy Mao sai lầm bèn bỏ ý thức hệ cộng sản, đưa ra khẩu hiệu’’ mèo trắng mèo đen đều tốt miễn là bắt được chuột’’. Chính Đặng Tiểu BÌnh, người thân tín của Chu Ân Lai cũng bị Mao va bọn tứ nhân bang bỏ tù vì tội thiên hữu, chống đảng. Sau khi Mao chết, Đặng lại ngoi lên, đưa ra chính sách mở cửa, tư hữu hóa, cải cách cơ cấu kinh tế cho nên Trung quốc ngày càng đi lên. Đặng Tiểu Bình già, chết, quyền trao tay Giang Trạch Dân. Vẫn là theo tục lệ truyền ngôi chứ không bầu cử như tây phương. Giang Trạch Dân tiếp tục chính sách đổi mới của Đặng Tiểu Bình. Nay thì Giang Trạch Dân đưa ra thuyết ‘’ Ba đại diện’’, nghĩa là đảng cộng sản nay công nhận tư sản ngang hàng với công nhân và nông dân. Mao cho nông dân ngang hàng với công nhân là một điều trái với Marx, Engels và Lenine nhưng vẫn có thể được. Nhưng đến Đặng Tiểu BÌnh với thực dụng chủ nghĩa, bắt tay tư bản và tái lập tư hữu là những điều hoàn toàn trái ý thức hệ Mác Lê! Nay Giang Trậch Dân lại đi xa hơn nữa trong việc phản lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách công nhận tư sản, coi tư bản là đồng chí chứ không còn là kẻ thù như Marx và Engels đã chủ trương. Phải chăng cộng đảng Trung quốc sau Mao với Đặng Tiểu Binh, Giang Trạch Dân đã và đang thực hiện con đường tư bản hóa và dân chủ hóa một cách tuần tự và hòa bình? Điều này chúng ta phải còn chờ đợi.
Dẫu sao Đặng TIểu Bình và Giang Trạch Dân cũng đã thông minh và khôn ngoan mà nhận thấy sai lầm của Mao và cương quyết thực hiện cải cách. Nhờ Đặng và Giang mà kinh tế phát triển, dân Trung quốc chưa có tự do nhưng có cơm no áo ấm hơn thời Mao! Tuy nhiên, Đặng và Giang vẫn chưa cải cách chính trị, vẫn còn độc đảng, vẫn cộng sản thống trị, vẫn áp bức, đàn áp tôn giáo, cấm mọi thứ tự do vẫn chủ trương bành trướng và đe dọa hoà bình thế giới. Tư sản nay được vào đảng, được giữ các chức vụ cao trong đảng. Nhưng đó là thực tế hay chỉ là một thuật mua chuộc tư bản? Những thực tế sau đây cho phép ta nghi ngờ:
- Ngày nay Trung quốc, nạn hối lộ vẫn mạnh.
- Nạn con ông cháu cha vẫn là một truyền thống từ xưa.
- Tư hữu hóa hay tư hữu hóa quốc doanh chỉ là hình thình trao tài sản quốc gia cho tư sản đỏ.
- Công nhận tư sản là công nhận tư sản đỏ, là một hình thức công nhận con ông cháu chavà bè đảng của các lãnh chúa .
Nói chung, thêm tư sản hay không thêm tư sản, bản chất vẫn là thế, nhưng dẫu sao cái mồi vẫn thơm rất quyến rủ đối với những tư sản Trung quốc trong nước và nước ngoài để khuyến khích họ đầu tư thêm để làm giàu cho tư sản đỏ.
Cộng sản Việt Nam là một đồ đệ trung thành của Trung quốc. Việt Nam trước đây chống Trung quốc nhưng vẫn áp dụng chính sách khoán sản phẩm và chính sách mở cửa của Trung quốc. Nay Trung quốc theo chính sách ba đại diện, mai đây Việt Nam cũng chép nguyên văn. Việc này có lợi cho Việt Nam để đưa tư sản đỏ vào quyền lực đảng, đồng thời vuốt ve những nhà tư sản Việt Nam trong nước và hải ngoại.
Đó là những mánh khóe chính trị giả dối mà Việt Nam sẽ áp dụng. Chúng ta là những chiến sĩ tranh đãu cho chính nghĩa quốc gia không dễ lung lạc trước những mánh khóe vụn vặt của cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của chúng ta là tranh đãu cho tụ do và dân chủ thật sự, nghĩa là Việt Nam phải có đa đảng, phải có tự do tôn giáo, tự do báo chí .Tự do thật sự chỉ có được khi tiêu diệt cộng sản ác ôn tàn bạo.
![]()
Quốc Gia, Dân Tộc và Địa Phương Phân Quyền
Minh Vũ Hồ Văn Châm
Từ hơn nửa thế kỷ nay, người Việt Nam chúng ta bàn tán, thảo luận nhiều về các ý niệm quốc gia và dân tộc, quốc gia và quốc tế, quốc gia và cộng sản. Vì lẽ quốc tế là đối vị của quốc gia, mà cộng sản trong bản chất là quốc tế, nên người Việt Nam chúng ta trong bấy lâu nay có thói quen sử dụng các từ quốc gia và cộng sản như là biểu thị của các ý niệm và thực thể đối kháng nhau. Mặt khác, không phải chỉ có quốc tế mới là đối vị của quốc gia, mà còn có một ý niệm khác không kém phần quan trọng đối kháng với từ quốc gia, đó là ý niệm địa phương. Thực vậy, quốc gia là nước, lớn hơn nước là quốc tế, nhỏ hơn nước là địa phương. Thế thì tại sao khi bàn tán, thảo luận về các vấn đề liên quan đến quốc gia, dân tộc, chúng ta chỉ chú trọng đến khía cạnh quốc gia và quốc tế mà xem nhẹ khía cạnh quốc gia và địa phương, cũng như có thói quen mặc nhiên thừa nhận quốc gia và cộng sản là những ý niệm và thực thể đối kháng với nhau.
Nguyên do chính yếu của tình hình vừa nêu trên là vì bước chân vào thế kỷ hai mươi, đất nước chúng ta vẫn còn đắm chìm trong tình trạng một xã hội nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Các nỗ lực giải phóng dân tộc thoát vòng nô lệ ngoại bang thường đi đôi với nỗ lực khôi phục vương triều nhà Nguyễn. Nói một cách khác, cho đến thời điểm này, ở nước ta, ý niệm ái quốc đi liền với ý niệm trung quân, và tinh thần quốc gia chưa được hình thành. Phải đợi đến thập niên những năm hai mươi, sau khi Phan Tây Hồ lên tiếng chế riễu ” Ai về địa phủ hỏi Gia Long, Khải Định thằng này phải cháu ông?”, và nhất là sau khi mười ba liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài ở Yên Bái vào năm 1930, thì ý niệm ái quốc mới tách rời khỏi ý niệm trung quân, và tinh thần quốc gia dân tộc mới được hình thành và khẳng định. Cũng cùng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc viết kịch “Con rồng tre” đả kích Nam triều, và theo lệnh Đệ tam Quốc tế kết hợp ba tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, để thành lập Việt Nam Cộng sản Đảng vào đầu năm 1930 tại Quảng Châu (đến cuối năm 1930 thì Trần Phú đổi lại tên là Đông Dương Cộng sản Đảng). Tất cả các tổ chức chính trị lúc bấy giờ, cả cộng sản lẫn không cộng sản, đều chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp để giải phóng đất nước và kích động tình tự dân tộc để tổ chức quần chúng. Vì những điểm tương đồng rất cơ bản này mà thành phần quần chúng trí thức không chú tâm phân biệt cộng sản với không cộng sản, mà chỉ hời hợt nhận thức bản chất quốc gia hay quốc tế của các tổ chức chính trị đương thời. Đông Dương Cộng sản Đảng là một bộ phận của Đệ tam Quốc tế, mang tính chất quốc tế rõ rệt, nên tất cả những tổ chức nào không phải là cộng sản (CS đệ tam lẫn đệ tứ) đều được gộp lại dưới một danh xưng chung là quốc gia, để rồi dần dà quốc gia trở thành đối vị của cộng sản.
Từ đó cho đến nay, người Việt Nam chúng ta cứ quen đem quốc gia ra đối kháng với cộng sản. Tàu Tưởng với Tàu Mao đánh nhau thì gọi là chiến tranh Quốc Cộng. Việt Minh với Quốc Dân Đảng kình chống nhau thì gọi là phân tranh Quốc Cộng. Từ cơ sở đó, hễ cái gì chống lại cộng sản thì được gộp lại thành một danh xưng chung chung là quốc gia. Như vậy là không được chính xác. Từ quốc gia bao hàm nhiều ý niệm cao sâu, không thể tùy tiện dùng làm đối vị với từ cộng sản. Người Việt Nam cộng sản lấy chủ nghĩa Mác Lê làm kinh điển, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam. Người Việt Nam không theo chủ nghĩa cộng sản nhận định rằng chủ nghĩa Mác Lê là không tưởng, là ngụy biện, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là những ý tưởng của người khác được lặp lại, không có gì mới lạ. Người Việt Nam không theo chủ nghĩa cộng sản có thể là đa số quần chúng thầm lặng, hay có thể là những người chống cộng nhiệt tình, nhưng cho dù thuộc thành phần nào chăng nữa thì chính xác họ là những người không cộng sản. Do đó, đối vị của cộng sản là cụm từ không cộng sản.
Mặt khác, đối vị của tinh thần quốc gia là tinh thần quốc tế và tinh thần địa phương. Quốc gia bao hàm hai ý niệm cơ bản là trong cả nước và cho toàn dân. Hễ một trong hai ý niệm đó không được thể hiện đúng mức hoặc thiếu trọn vẹn thì mất đi tính chất quốc gia. Quốc tế có thể mang nhiều hình thái. Quốc tế có thể là chính trị, là quân sự, là tôn giáo, là kinh tế, là văn hóa, là xã hội. Dù cho toàn dân, nhưng một khi đã là quốc tế, thì quốc gia bị phủ lấp, quyền lợi quốc gia không được tôn trọng, phúc lợi dân tộc phải chịu hy sinh cho nghĩa vụ quốc tế. Nếu là quốc tế mà lại không phải cho toàn dân thì càng tệ hại hơn, chẳng những quyền lợi quốc gia bị hy sinh mà phúc lợi dân tộc cũng hoàn toàn bị quên lãng. Chung qui chỉ có thiểu số hưởng đặc quyền đặc lợi là ngồi mát ăn bát vàng, sống no say phè phỡn trên sự điêu tàn của quốc gia và nỗi khốn cùng của đại khối dân tộc. Tinh thần địa phương cũng tác hại không kém. Địa phương thì đương nhiên không thể nào là trong cả nước và cho toàn dân. Địa phương xói mòn, phá nát sự thống nhất quốc gia. Địa phương phân hóa, hủy hoại tình đoàn kết dân tộc. Tinh thần địa phương làm nẩy sinh sự đố kỵ giữa các địa phương, sự bất phục tùng trung ương, đưa đến hậu quả cát cứ và nội chiến, quốc gia vỡ vụn thành nhiều mảnh, dân tộc chia rẽ thành nhiều nhóm sống trong hận thù.
Quốc gia là không cộng sản, vì lẽ cộng sản là quốc tế. Nhưng cộng sản Việt Nam trong quá khứ lại thường gian trá đội lốt quốc gia, và triệt để khai thác tình tự dân tộc. Ngày nay, mặt nạ yêu nước thương dân của cộng sản Việt Nam đã bị vỡ vụn, bộ mặt thật của cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình, và người Việt Nam chúng ta, sau bao nhiêu kinh nghiệm cay đắng, đã nhận chân thực tế phũ phàng là đối với cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản mới là cứu cánh, còn quốc gia chỉ là chiêu bài, dân tộc chỉ là phương tiện. Tuy vậy, cộng sản Việt Nam trăm mưu nghìn kế, ngày nay vẫn tiếp tục lừa mị quần chúng ngây thơ, nhất là trí thức và tuổi trẻ nhiệt tình, sử dụng các hình thái văn nghệ tâm lý chiến để kích động lòng yêu nước thương dân của các thành phần này, đồng thời mập mờ khoác trở lại lên mình cái lốt mới quốc gia dân tộc. Bởi vậy, người Việt Nam chúng ta ngày nay vẫn cần phải cảnh giác thủ đoạn quỉ quyệt của người cộng sản để tỉnh táo nhận định chân với giả. Trong ý hệ Mác Lê, dứt khoát là không có chỗ đứng cho hai tiếng quốc gia. Trong ý hệ Mác Lê, tình tự dân tộc bị chê là ấu trĩ, chủ nghĩa dân tộc bị chê là hẹp hòi. Người Việt Nam cộng sản đặt quyền lợi Đảng Cộng sản của họ lên trên quyền lợi quốc gia và không đếm xĩa gì đến phúc lợi dân tộc. Mọi hành vi và ngôn ngữ yêu nước thương nòi chỉ là những màn kịch khéo đóng.
Quốc gia là chống cộng, nhưng ngược lại, không phải bất cứ cơ cấu chống cộng nào cũng có thể gộp chung lại thành một tổng thể để mệnh danh là quốc gia. Thực vậy, nếu có những cơ cấu chống cộng ở phạm trù cả nước thì cũng có những cơ cấu chống cộng mang tính chất quốc tế hoặc địa phương. Mặt khác, đã từng có những cơ cấu chống cộng tự nhận là quốc gia nhưng không lấy quyền lợi quốc gia làm cứu cánh, lấy phúc lợi dân tộc làm đối tượng, mà trong thực tế, chỉ nhằm vào việc đấu tranh với đảng cộng sản cầm quyền để tranh giành đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số thành phần nhân dân mang tính chất giai cấp, tôn giáo, địa phương, hoặc chủng tộc. Do đó, vấn dề đặt ra ở đây là vấn đề chính danh. Quốc gia là chống cộng, quốc gia và chống cộng có chung một mục tiêu đấu tranh là thực hiện sự giải thể chế độ cộng sản và triệt tiêu chính quyền chuyên chính vô sản, nhưng quốc gia với chống cộng cực đoan có sự khác biệt tế nhị là quốc gia chống cộng nhưng không bao giờ vì sự nghiệp chống cộng mà đi ngược quyền lợi tối thượng của quốc gia và hy sinh phúc lợi của đại khối dân tộc.
Tinh thần quốc gia là yếu tố căn bản để thực hiện và củng cố sự thống nhất quốc gia và tình đoàn kết dân tộc. Một khi đã nhận định rằng đối vị của quốc gia là quốc tế và địa phương thì song song với sự nghiệp bảo vệ đất nước chống lại các hình thái xâm lược hoặc áp đảo của các thế lực quốc tế, người Việt Nam chúng ta ngày nay cần phải nhanh chóng tìm cách giải tiêu tinh thần địa phương vốn là uyên nguyên của tình trạng kỳ thị và chia rẽ nam bắc của đất nước chúng ta xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển dân tộc. Các yếu tố lịch sử và địa lý đã hình thành trên quốc gia Việt Nam hai khu vực lớn chung quanh Hà Nội và Sài Gòn. Hai trung tâm này kèn cựa nhau để tranh giành ngôi vị thủ đô nước Việt Nam thống nhất. Tình trạng này quả tình là không thích hợp với chính sách trung ương tập quyền. Cần thực hiện ngay sự phân quyền rộng rãi cho địa phương. Trung ương chỉ cần nắm chính cương chính sách, và một vài lĩnh vực trọng yếu trên phạm trù quốc gia như ngoại giao, quốc phòng, tiền tệ. Mọi việc khác nên để cho địa phương tự trị. Địa phương sẽ tùy nghi huy động nhân tài vật lực cơ hữu để phát triển khu vực của mình dưới sự điều hợp của trung ương cho ăn nhịp với chính sách chung của cả nước.
Hà Nội và Sài Gòn đều là đại địa, là trung tâm của những miền rộng đất, đông dân và nhiều của. Tuy vậy, chính quyền trung ương của nước Việt Nam thống nhất không nên đóng ở Hà Nội hoặc Sài Gòn. Nếu thủ đô đóng ở một trong hai trung tâm lớn này thì trung tâm kia sẽ cảm thấy bị thua thiệt, bị lấn ép, bị khai thác, bị bóc lột, bị lãng quên, bị kìm hãm, để trung ương qui tụ nhân tài và tập trung vật lực của cả nước vào việc tô bồi, tân tạo và phát triển thủ đô. Năm 1902, phủ Toàn Quyền Đông Dương thuộc Pháp dời từ Sài Gòn ra Hà Nội thì Sài Gòn hậm hực. Năm 1948, chính quyền Quốc Gia Việt Nam đặt thủ đô ở Sài Gòn thì Hà Nội bất mãn. Năm 1976, hiệp thương hai miền Nam Bắc thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với Hà Nội tiếp tục làm thủ đô thì Sài Gòn và miền Nam uất ức. Cứ cái đà này thì mâu thuẫn bắc nam mỗi ngày một thêm trầm trọng, tinh thần kỳ thị địa phương mỗi ngày một thêm sâu sắc, nguy cơ cát cứ và phân ly mỗi ngày một thêm đè nặng lên nền thống nhất quốc gia và tình đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, song hành với việc để các địa phương nam bắc được tự trị rộng rãi, chính quyền trung ương của nước Việt Nam thống nhất nên đặt ở một nơi khác, không nam không bắc. Nếu Việt Nam chia làm hai miền tự trị thì chính quyền trung ương đặt ở Huế. Nếu Việt Nam chia làm ba miền Trung Nam Bắc thì chính quyền trung ương đặt ở Đà Lạt.
Nếu Việt Nam chia làm hai miền thì từ Quảng Trị trở ra thuộc về Hà Nội, từ Quảng Nam trở vào thuc về Sài Gòn. Nếu Việt Nam chia làm ba miền thì Thanh Hóa thuộc về miền Bắc, Bình Thuận thuộc về miền Nam, từ Nghệ An đến Ban Mê Thuột và Khánh Hòa là miền Trung. Để phát triển khu vực miền Trung ngang tầm với hai miền Nam Bắc, cần gộp hai thành phố Huế và Đà Nẵng thành một phức hợp đô thị có một tổ chức quản lý hành chánh duy nhất. Huế-Đà Nẵng sẽ vừa là trung tâm địa lý, chính trị, kinh tế và văn hóa của miền Trung, vừa là nền móng vững chãi cho sự thống nhất lãnh thổ và sự hòa hợp nhân tâm của quốc gia và dân tộc Việt Nam. Huế có thế mạnh lịch sử và văn hóa, Đà Nẵng có thế mạnh địa lý và kinh tế. Huế có vị trí chiến lược của thành Khu Túc thời Bắc thuộc, có vai trò chính trị của Hóa Thành thời Trần Lê, có dấu ấn văn hóa của cố đô Phú Xuân thời các vua chúa nhà Nguyễn. Đà Nẵng là mắt xích quan yếu của hệ thống hàng không hàng hải quốc tế đông tây. Đà Nẵng nằm ngay trên đường bay quốc tế A1. Lệ phí Hồng Kông (Hongkong fee) của Đà Nẵng, tính theo vị trí xa gần đối với thủy đạo từ Singapore đi Hong Kong men theo bờ biển Phi Luật Tân, thì tương đương với Vũng Tàu và Cam Ranh, và thấp hơn Hải Phòng rất nhiều. Nếu thủy đạo Singapore-Hồng Kông men theo bờ biển Trung Bộ và Hải Nam thì Đà Nẵng và Cam Ranh nằm ngay trên hải trình. Đà Nẵng lại là cảng biển nước sâu (cảng Nam Thọ ở mặt đông bán đảo Sơn Chà), thuận lợi hơn các cảng Sài Gòn và Hải Phòng phải đi vào cửa sông.
Nếu phát triển riêng rẽ, Huế cũng như Đà Nẵng đều bộc lộ những mặt mạnh mặt yếu. Nhưng nếu tổ chức lại thành một phức hợp đô thị, Huế-Đà Nẵng sẽ bổ khuyết cho nhau để tự giải hóa các mặt yếu, đồng thời phát huy được tối đa các mặt mạnh. Ngược dòng lịch sử, Huế-Đà Nẵng là địa bàn giao thoa của hai văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh, là nơi đối đầu của hai văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, và là chiến trường tranh chấp giữa hai quốc gia Cổ Việt và Cổ Chiêm. Trước khi Đại Việt và Chiêm Thành thống nhất, Huế và Đà Nẵng luôn luôn cùng thuộc về một phân hạt hành chánh, dù là thuộc Chiêm hay thuộc Việt. Thuộc Chiêm thì cùng là châu Lý (Ri), thuộc Việt thì cùng là châu Hóa. Đến khi An Nam thống nhất với Việt Thường để trở thành Việt Nam thì Huế trở thành kinh đô và Đà Nẵng là cửa ngõ của triều đình. Nằm ở đầu mối giao thông hàng không hàng hải quốc tế, Đà Nẵng lo việc giao lưu với bên ngoài. Nằm ở đầu mối hành lang đông tây, Huế phụ trách việc thâm nhập và khai thông nội địa. Từ ngã ba Tuần, ngược nguồn Tả Trạch, nếu qua đèo Khiêm Quang thì ta vào thượng đạo Quảng Nam, nếu qua thung lũng A Sau và huyện Hiên huyện Giàng thì ta lên Tây Nguyên hoặc qua Biển Hồ. Cũng từ ngã ba Tuần, ngược nguồn Hữu Trạch lên huyện A Lưới, nếu theo đường xuyên sơn thì ta qua Paksé, nếu vượt đèo Lao Bảo thì ta qua Savanakhet, Korat, và Thượng Lào. Đường hầm Hải Vân đang được thi công sẽ thu ngắn khoảng cách 107 kilômét giữa Huế và Đà Nẵng còn lại năm bảy chục kilômét, vừa vặn là đường kính của một đô thị thông thường trên thế giớì ngày nay. Mặt khác, đèo Lao Bảo có độ dốc rất xuôi, các điểm cao cũng chỉ trên dưới 200 mét, cho nên các dự án đường sắt và sông đào Đông Hà-Savanakhet đã hoạch định từ thời Pháp thuộc và Nhật thuộc có nhiều khả năng được thực hiện dễ dàng với trình độ kỹ thuật hiện đại.
Mỗi khi đề cập các vấn đề chính trị và văn hóa của đất nước, cũng như thảo luận các vấn đề phát triển kinh tế và cải tiến dân sinh, người Việt Nam chúng ta ngày nay nên gạt bỏ tinh thần địa phương để nâng tầm nhìn lên cao bao quát toàn bộ lãnh thổ quốc gia, từ bắc xuống nam, từ biển lên rừng, chứ không nên khư khư tự giới hạn trong khuôn khổ một khu vực, một địa phương. Đành rằng các lưu vực sông Hồng sông Mã là nơi hình thành dân tộc Việt Nam qua tiến trình hỗn chủng giữa dân Tiền Việt và dân Hán Hoa Bắc, nhưng địa bàn dân Tiền Việt tỏa rộng khắp miền Hoa Nam và bán đảo Đông Dương, cho nên chúng ta không nên tự giới hạn lãnh thổ ban đầu của chúng ta trong mỗi một huyện Tây Vu hoặc quận Giao Chỉ. Nước Văn Lang hay Môn Lang, có nghĩa là làng của người Môn, đất nước của người Môn, vươn dài lên tới hồ Động Đình. Cha rồng họ Lạc, mẹ tiên họ Âu, rõ ràng đất nước thời hồng hoang đã bao gồm cả Bắc Việt (Lạc Việt) lẫn Lưỡng Quảng (Âu Việt). Thế thì tại sao Thục Phán từ Tây Âu xuống kiêm tính Lạc Việt, lập ra nước Âu Lạc, lại được thừa nhận là vua Việt Nam, còn Triệu Đà từ Âu Việt qua thôn tính Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt, đã được sử cũ thừa nhận là vua Việt Nam, lại bị các sử gia Hà Nội xem là quân xâm lược? Phải chăng vì Thục Phán đóng đô ở Cổ Loa huyện Tây Vu, còn Triệu Đà đóng đô ở Phiên Ngung huyện Nam Hải, bên ngoài lãnh thổ miền bắc nước ta ngày nay? Chả thế mà nhà cầm quyền Hà Nội có dự án khôi phục lại thành Cổ Loa, một việc làm vừa phi kinh tế, vừa không có ý nghĩa, bởi lẽ chỉ có vòng thành ngoài hình trôn ốc bằng đất là của An Dương Vương, chứ thành vuông bằng gạch bên trong là thành của Mã Viện.
Công nghiệp của Thục Phán và Triệu Đà đều nên được xem như là nỗ lực thống nhất dân tộc, nghĩa là thâu gồm các lãnh thổ vụn vặt thành một đất nước rộng lớn, tập hợp các vương quốc nhỏ bé thành một quốc gia hùng mạnh, trên nền móng một quốc dân hợp nhất là chủng tộc Bách Việt. Sự kiện này được nhìn nhận trong bức thư của Hán Văn Đế gửi Triệu Vũ Vương, cũng như qua quyết định của Hán Vũ Đế duy trì toàn thể lãnh thổ Nam Việt trong một tổ chức riêng biệt gọi là Giao Chỉ Bộ, mà về sau được đổi lại là Giao Châu. Chỉ vì nhà Đông Ngô không kềm chế nỗi Sĩ Nhiếp, tuy đã cử Bộ Chất làm Thứ Sử Giao Châu, nhưng vẫn phải chịu để Sĩ Nhiếp kiêm tính cả hai thành Quảng Tín và Luy Lâu, cũng như phải chịu để Sĩ Nhiếp cắt cử anh em chia nhau giữ chức Thái Thú các quận Nhật Nam, Hợp Phố và Nam Hải, nên sau khi Sĩ Nhiếp chết, Ngô Tôn Hạo bèn chia Giao Châu làm hai châu Giao, Quảng. Sĩ Nhiếp với Triệu Đà, tuy bên văn bên võ khác nhau, nhưng công trạng đối với dân ta có mức độ tương đồng, nếu Sĩ Nhiếp đã được tôn xưng là Sĩ Vương, là Nam Giao Học Tổ, thì lẽ nào Triệu Đà, người đã đưa dân ta từ văn minh đồ đồng tiến lên văn minh đồ sắt, lại không được thừa nhận là vua chúa Việt Nam?
Cũng cùng một chiều hướng, việc Khu Liên ở huyện Tượng Lâm dựng nền tự chủ, lập ra nước Lâm Ấp, phải được xem như là sự nghiệp giải phóng cư dân bản địa thoát khỏi sự đô hộ của người Tàu. Vào thời điểm này, cư dân bản địa ở huyện Tượng Lâm không có gì khác biệt với cư dân bản địa ở huyện Tây Quyển hoặc ở huyện Tây Vu. Mặt khác, một số vua chúa Lâm Ấp buổi đầu như Phạm Văn, Phạm Phật, Phạm Hồ Đạt lại là di dân gốc Hán, y hệt Triệu Đà ở Nam Hải, Sĩ Nhiếp ở Thương Ngô, Lý Bôn ở Giao Chỉ. Vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại II lại đã từng đòi hỏi nhà Tống (Nam Bắc triều) giao trả quyền thống lĩnh toàn bộ Giao Châu. Bởi vậy, cuộc chiến tranh ở biên cương giữa Lâm Ấp với Giao Châu phải được người Việt Nam chúng ta ngày nay xem là cuộc đấu tranh với quân giặc xâm lược để tiếp tục hoàn chỉnh sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nếu Thục Phán và Triệu Đà đã được sử cũ xem là vua chúa Việt Nam thì vua chúa Lâm Ấp cũng như vua chúa Chiêm Thành về sau phải được người Việt Nam chúng ta ngày nay thừa nhận là vua chúa Việt Nam, ít nhất cũng ngang tầm với vua chúa các thời đại đất nước qua phân Mạc, Lê Trung Hưng, Trịnh, Nguyễn, và Tây Sơn.
Với góc nhìn và thế đứng được điều chỉnh lại, song hành với việc tái tổ chức lãnh thổ và phân quyền rộng rãi cho các địa phương, người Việt Nam chúng ta ngày nay, một mặt sẽ gột bỏ được tinh thần kỳ thị địa phương, chia rẽ nam bắc, mặt khác sẽ rũ sạch tâm lý phục Tàu, sợ Tàu, chạy theo đuôi Tàu, đồng thời sẽ có thái độ thân ái hơn, cư xử bình đẳng hơn, không còn mang nặng đầu óc tự tôn quá đáng trong khi giao tiếp với các sắc tộc anh em trong cộng đồng dân tộc. Chúng ta nâng tầm nhìn lên cao để bao quát cả khu vực cư dân Bách Việt, rọi ánh sáng tìm tòi lùi xa trở lại thời sơ sử mịt mù, và chúng ta sẽ hóa giải mưu mô thâm độc của người Hán cứ tìm mọi cách để chúng ta tự mình đồng hóa với người Tàu. Cha rồng họ Lạc, mẹ tiên họ Âu đều là người đồng chủng. Làm gì có chuyện Âu Cơ vốn là người bắc (người Hán), muốn đem 50 con về bắc nhưng bị Hoàng Đế đem binh ngăn trở. Lúc bấy giờ, Hoàng Đế còn ở tận trên thảo nguyên Cam Túc, đâu đã có mặt ở Giang Nam. Thực tế lịch sử là không hề có liên hệ huyết thống giữa Việt tộc và Hán tộc vào thời bấy giờ. Chỉ từ khi Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư mang quân đi đánh Bách Việt, sự hỗn chủng mới xẩy ra. Do yếu tố di dân Hán mà phát sinh sự phân hóa cư dân Tiền Việt thành hai tộc Việt Mường riêng rẽ, nhưng người Việt vẫn không phải là người Hán, người Việt vẫn bảo lưu được nhiều đặc điểm nhân chủng và yếu tố văn hóa cội nguồn, nhờ vậy mà người Việt không bị tuyệt giống.
Tuy nhiên, người Tàu cũng đã thành công một phần trong việc làm cho đa số người Việt tự nhận là hậu duệ của di dân gốc Hán. Người Việt Nam chúng ta ngày nay cần ý thức rằng cho dù gia phả chúng ta còn ghi tiên tổ xa xưa vốn người Chân Định (Triệu Đà) hay người nước Lỗ (Sĩ Nhiếp), người đất Mân (Trần Thủ Độ) hay người Triết Giang (Hồ Quý Ly), thì trong máu thịt chúng ta cũng vẫn có ít nhiều yếu tố bản địa, khiến đầu chúng ta đa số có chỉ số sọ dài, khiến máu chúng ta đa số thuộc nhóm máu loại O. Dứt khoát chúng ta là người Việt chứ không phải là người Hán. Chúng ta phải chấm dứt việc sử dụng góc nhìn và thế đứng rập khuôn theo người Tàu mỗi khi đề cấp đến các vấn đề chính trị và văn hóa Việt Nam. Chúng ta đừng theo đuôi người Tàu gọi bà Triệu là con mụ Triệu (Triệu Ẩu), truyền tụng với nhau rằng bà Triệu chết đi được Thượng Đế cho làm thần ôn dịch, xuyên tạc việc dân chúng Cửu Chân bày tượng thần linga trong đền thờ bà Triệu là để trấn áp ôn dịch bởi vì bà Triệu là phụ nữ, nay tuy làm thần ôn dịch nhưng vẫn không thoát khỏi tính cả thẹn khi nhìn thấy các hình tượng sinh thực khí (Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên). Chúng ta cũng đừng theo đuôi người Tàu gọi người Lâm Ấp là dân man, gọi các đạo binh Lâm Ấp đánh vào Nhật Nam, Cửu Chân và Giao Chỉ là quân giặc cướp, bởi lẽ tiên tổ người Lâm Ấp – Chiêm Thành cũng là di dân người Môn Nam Á đợt hai đã từ Hoa Nam tiến vào bờ biển Tượng Lâm cùng thời với đám di dân tiến vào bờ biển Giao Chỉ, và thực tế lịch sử đã chứng minh rằng mục đích tiến quân của Lâm Ấp là để đánh đuổi quân Tàu xâm lược ra khỏi Giao Châu, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bằng cớ hiển nhiên của sự kiện này là việc quân Lâm Ấp tiến chiếm thành Khu Túc (Thừa Thiên), triệt hạ các quận thành Cữu Chân (Thanh Hóa) và Giao Chỉ (Bắc Ninh) năm 248 sau Công nguyên, đã xẩy ra cùng một lúc với việc khởi nghĩa của Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh, và trước áp lực của đạo quân Lục Dận, khi quân Lâm Ấp phải rút lui thì việc khởi nghĩa của anh em họ Triệu cũng thất bại.
Người Việt Nam chúng ta thường xuyên phải đối đầu với âm mưu của người ngoài luôn luôn toan tính xé nát quốc gia Việt Nam làm nhiều mảnh, chia rẽ quốc dân Việt Nam thành nhiều nhóm, bằng nhiều hình thức tinh tế và đa dạng nhằm mục đích khoét sâu các dị biệt nam bắc, các bất đồng địa phương, các mâu thuẩn sắc tộc. Với góc nhìn và thế đứng được điều chỉnh lại như thế, chúng ta dễ dàng phát huy tinh thần quốc gia, vun quén tình tự dân tộc, và củng cố sự đoàn kết quốc dân, để vô hiệu hóa các kế hoạch thâm độc của người ngoài. Thực tế lịch sử là không hề có sự kiện vương quốc Đại Việt thôn tính vương quốc Chiêm Thành, sắc dân Kinh đồng hóa sắc dân Thượng. Quốc gia Việt Nam ngày nay là kết quả của sự thống nhất An Nam với Việt Thường, được hình thành từ thuở hồng hoang trên cùng chung một cơ sở đất nước và con người : Văn Lang, hay Môn Lang, làng của người Môn, đất nước của người Môn. (tháng 10/02)
![]()
TIẾNG NỨC NỞ OAI HÙNG CỦA MỘT NGƯỜI MẸ
Nguyễn Hữu Hùng-Toronto
Kính tặng bà Kim Dung, mẹ của Lê Chí Quang
Lẽ ra bài này phải được viết trước đây một tháng để ca tụng một người đàn bà Việt Nam hiện đang ở trong gông cùm cộng sản, đè nén được những cơn xúc động cùng với những đau thương trong lúc đứa con ruột của mình bị bắt về việc viết và đăng những loạt bài chóng tham nhũng, chốùng việc nhường đất cho Bắc Triều, chốùng sự vi phạm Nhân quyền và lên tiếng với nhà cầm quyền Việt Nam hãy thay đổi theo chiều hứơng tự do dân chủ, đó là bà Nguyễn thị Kim Dung, mẹ của luật sư Lê Chí Quang, một tuổi trẻ được sinh sống và giáo dục theo đường lối Xả Hội Chủ Nghĩa nhưng em là người đã thể hiện được : gần bùn mà chăng hôi tanh mùi bùn.
Tôi rất sung sướng và khâm phục bà Kim Dung về đức tính từ mẫu của bà khi tôi nghe lại cuộc phỏng vấn của anh em thuộc tổ chức Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường với bà Kim Dung thực hiện trong những ngày trước ngày 8 tháng 11 là ngày nhà cầm quyền Việt Nam đưa em Lê Chí Quang ra tòa gán tội. Lòng từ mẫu của một con người có giòng máu Trưng Triệu nên bà vẫn giữa được sự bình tỉnh của mình trước sự đau thương nhất là đứa con trai của mình vừa bị bịnh nan y vừa bị giam cầm trong chế độ tàn bạo mà không có vấn đề nhân đạo nào trong đó để cứu chữa con mình..
Tôi còn khâm phục hơn nữa đức tính uy vũ bất năng khuất của bà về giọng nói trong sáng vững chắc của mình mà không hề lo sợ trước sự trả thù ngông cuồng của chế độ, bà vẫn thẳng thắng nói lên những gì con mình đã làm là vì phúc lợi cho mọi người, không có một hành động nào trái với pháp luật nhà nước thì không có lý do gì gán tội danh để bị xét xử về tội hình.
Những lời nói của bà là những thông điệp tình thương và dân chủ tự do gởi cho nhân loại nói chung và cho người Việt Nam nói riêng để những người hiện đang sống bên trong và ngoài Việt Nam phải nghe và hiểu sự tàn bạo của chế độ trong việc đối xử với con người có tư tưởng cần phải được phát biểu của mình. Chính những bài của Lê Chí Quang và những lời nói của bà Kim Dung mới có thể thức tỉnh được những con người
mê muội còn tin vào chủ nghĩa cộng sản hay là lối dân tộc ngụy biện để che dấu cái quyền lợi thấp hèn của mình đối với Bác và Đảng ban phát cho họ.
Hãy thử nghĩ nếu những bài viết của Lê Chí Quang được ký tên của một người Việt Nam nào đó từng sống trong chính quyền Miền Nam thì chắc chắn cho rằng đó là những tay bồi bút Mỹ Ngụy với lối suy nghỉ một chiều v.v..viết để chỉ trích chế độ.
Tôïi còn nhớ rõ lời bà nói trong phòng xử án khi con bà, Lê Chí Quang bị xử tù 4 năm và 3 năm quảng chế, bà đã nói : Ngay cả đến Tần Thủy Hoàng và Hitler cũng chủa tráo trở như các người, đồ chó má.
Đó là những lời chân thật nhất của một con người đứng trước sự áp bức vì chính điều 69 trong Hiến Pháp năm 1992 quy định : Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của luật pháp. Nhưng một khi người dân xử dụng cái quyền đó thì bị tù đầy, trù dập.
Một sự kiện càng khôi hài hơn nữa vào ngày 16/8/ 2001, Đảng Cộng sản kêu gọi nhân dân góp ý về vấn đề sửa đổi Hiến Pháp và Lê Chí Quang cũng đã viết bài góp ý sửa đổi hiến pháp 1992 như trong việc sửa đổ tên nước, bải bỏ câu văn .. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin… hoặc kêu gọi bỏ câu : ..Đảng đại diện cho cả dân tộc.. v..v…nghĩa là phải bãi bỏ sự độc tôn lảnh đạo của Đảng và chấp nhận tự do dân chủ thật sự. Hậu quả là em Quang phải bị tù đầy.
Bà Kim Dung còn xác nhận một câu tất khẳng khái của bà : Việt Nam cần phải có đa đảng mới thực sự có tự do dân chủ đã nói lên được ý thức cao độ của một người đàn bà bình thường đứng trước hiện trạng của đất nước.
Đúng như tiền nhân chúng ta đã thường nói : Nhi nhữ cũng anh hùng , thật không sai chút nào.
Tôi trần ngâm cầu nguyện cho em Quang, một đóa sen của Việt Nam có một người mẹ đáng kính như vậy , em sẽ là người làm gương sáng cho tuối trẻ Việt Nam trong cũng như ở ngoài nước Việ Nam hãy thức tỉnh theo gương của em, một người phất ngọn cờ cho tự do dân chủ để cứu 80 triệu người đang bị cai trị tàn bạo, bị bóc lột, bị móc túi để làm giàu trên sự đau khổ của đồng bào. Bọn người lảnh đạo có hàng trăm triệu đô la là một việc làm không chấp nhận được trong một nước thật sự dân chủ tự do.
Những lời nói của bà Kim Dung sẽ được chúng tôi cho phát thanh lại trong ngày Hội Luận Tự Do và Dân Chủ trong một ngày gần đây và mong rằng những người còn con tim thương yêu quê hương , dân tộc hãy cùng nhau đến tham dự.
Một con chim mẹ vừa bay qua khỏi nóc hiên nhà, miệng ngậm con chim con để thay tổ ấm bởi vì chiếc tổ ấm kia đang bị một loại rắn lục đến kiếm mồi. Loài chim còn biết bảo vệ cho con và tôi thấy rõ đôi cánh nhỏ bé của bà Kim Dung sẽ là một sức mạnh phá tung ngục tù cộng sản để cứu đứa con của bà ra khỏi căn nhà tù tội ở Việt Nam.
Lậy ơn trên che chở cho những người đang gập nạn tại Việt Nam vì tự do tôn giáo, tư do dân chủ của dân tộc. Tất cả sẽ được trả lại tự do trong một ngày rất gần và tòa án lịch sử sẽ sang trang với bộ máy lãnh đạo tàn ác ở Việt Nam.
Nguyễn Hữu Hùng
![]()
Bước ngoặt mới của cuộc đấu tranh
( Bài viết nhân kỷ niệm 2 năm ngày công bố Hiến Chương 2000 và nhân dịp Nhóm Dân Chủ Việt Nam ra đời tại quốc nội)
Dương Văn Thưởng
Nguyên đảng viên Đảng CSVN/Former member of the Communist Party of VN
Nguyên Thư Ký của Trần Xuân Bách – cựu Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Đảng/Former Secretary for Tran Xuan Bach – a Politburo Member & Chairman of the CPV’s Central Committee
Phát Ngôn Viên Hiến Chương 2000 tại Đông Âu/Charter 2000′s Spokesperson, Eastern Europe
Ghi chú của Diễn Đàn Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN: Dương Văn Thưởng là một nhà tranh đãu nổi tiếng ở Đông Âu, một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Tổ Chức Dân Chủ VN tại Đức. Ông nguyên là đảng viên Đảng CSVN và từng là phụ tá đắc lực cho Trần Xuân Bách, Ủy Viên Bộ Chính Trị và Bí Thư Trung Ương Đảng CSVN trước đây. Chiến sĩ dân chu? Dương Văn Thưởng hiện tranh đấu cho dân chu? VN dưới ngọn cờ của HIẾN CHƯƠNG 2000, Phát Ngôn Viên của Hiến Chương 2000 tại Đông Âu (phụ trách chuyên môn. Vị Phát Ngôn Viên tổng quát là Phạm Hoàng). Cách đây hai năm, ông và phái đoàn hùng hậu cả chục người của Đông Âu tham dư. Đại Hội Thế Giới Công Bố Hiến Chương 2000 ngày 25-26/11/2000 tại Paris, Pháp Quốc. Trong bài sau đây người cựu đảng viên CS nói về yếu tố mới nhất của chính tình VN mấy ngày qua là sự thành lập công khai Nhóm Dân Chủ Việt Nam do Phạm Quế Dương và Trần Khuê đại diện. Nhân kỷ niệm 2 năm Hiến Chương 2000, ông bàn về yếu tố hình thành đối lập công khai tại Quốc Nội và con đường dân chủ hóa đất nước do các yếu tố mới của tình hình và sự vận dụng HIẾN CHƯƠNG 2000 đem lại.
Chỉ trong một thời gian ngắn từ đầu năm nay, tình hình chính trị tại Việt Nam đã xuất hiện hàng loạt sự kiện đáng chú ý liên hệ đến tương quan lực lượng trong cuộc đãu tranh giữa một bên là đảng cộng sản VIệT NAM ra sức nắm chính quyền bằng mọi giá và một bên là các lực lượng dân chủ cương quyết đãu tranh nhằm dân chủ hoá đất nước, đưa VIệT NAM thoát khỏi ách độc tài toàn trị, hoà nhập vào trào lưu dân chủ của thế giới.
I Thế và lực của đảng Cộng Sản VIệT NAM
Mặc dù vẫn còn độc diễn trên chính trường VIệT NAM, với tư cách của người nắm chính quyền, nhưng sau sự kiện ký kết hai hiệp định biên giới trên đất liền và phân định vịnh Bắc Bộ giữa VIệT NAM và Trung Quốc năm 1999 và 2000, cùng với việc các tổ chức đãu tranh người VIệT NAM công bố rộng rãi văn thư của Thủ Tướng Chính Phủ VIệT NAM Dân Chủ Cộng Hoà Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 nănm 1958, xác nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc bao gồm cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sạ Đảng Cộng sản VIệT NAM dù ra sức bưng bít, bào chữa nhưng vẫn không che dấu được sự thật trước người dân cả trong nước và hải ngoại, họ đã tự để lộ chân tướng là kẻ bán nước. Đây có thể coi là gót chân Achilles hay là tử huyệt của ĐCSVN, là điểm khởi đầu cho việc làm bùng lên ngọn lửa làm sụp đổ chế độ trong các hoạt động của người Việt chống lại Đảng CS sau này. Trong cuộc hội thảo tại Berlin ngày 13 tháng 7 năm 2002, ông Nguyễn Ngọc Đức, Tổng thư ký Liên Minh VN Tự Do, khi đánh giá về sự kiện trên đã cho rằng, Đảng CSVN đã tạo cho các lực lượng dân chủ đối lập một cơ hội ngàn vàng để quật lại họ, chính nghĩa đã không thuộc về người đang nắm chính quyền.
Cùng với hành động Việt Gian bán nước qua sự kiện hiệp định biên giới, thì vụ án Năm Cam trong nước được phanh phúi với nhiều cán bộ cao cấp bao che cho băng đảng xã hội đen này lũng đoạn đất nước, đã làm cho nhiều người dân thức tỉnh và nghi ngờ về vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng CS. Theo kết quả của trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội, thuộc ban tư tưởng văn hoá trung ưöng và phòng nghiên cứu dư luận xã hội ban tư tưởng văn hoá thành phố Hồ chí Minh (báo An Ninh Thế giới ngày 11 / 4 / 2002) khi được hỏi ý kiến về những vấn đề lớn như: Niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, về vai trò lãnh đạo của ĐCS, tư tưởng HCM…, họ đã đi đến kết luận: Bởi nhiều nguyên nhân, tình hình tư tưởng của cán bộ đảng viên và nhân dân phức tạp không thể xem thường. Phức tạp ở đây phải hiểu là dân đã mất lòng tin vào đảng, nhà nước. Trước đây ĐCSVN chỉ thừa nhận một nguy cơ Diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch âm muu hòng lật đổ chế độ. Nay lần đầu tiên họ phải thừa nhận có một nguy cơ tự diễn biến (nghị quyết Trung ương 5 khoá 9, tháng 4 / 2002 về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng lý luận trong tình hình mới). Tự diễn biến có nghĩa là cán bộ đảng viên và dân chúng qua giác ngộ đã tự thay đổi thái độ quay lưng lại chống phá chế độ như đã từng xảy ra ở Đông Âu.
Nói về thái độ của người dân với chính quyền, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tuổi tre? VIệT NAM hải ngoại tháng 9/ 2002, ông Phạm Quế Dương, phát ngôn viên của Nhóm Dân Chủ VIệT NAM cho rằng: Ở VIệT NAM hiện nay có quá nhiều người chống lại chế độ, mà tôi là một trong số ít người có điều kiện dám nói ra mà thôi. Ý kiến của ông quả là rất khách quan. Nếu chúng ta cho rằng, một trong những nội dung chính của cuộc đãu tranh nhằm dân chủ hoá đất nước diễn ra trên lĩnh vực dân chủ nhân quyền… thì thế của ĐCSVN là thế bị động đối phó. Vì chính họ là thủ phạm của các vụ vi phạm dân chủ nhân quyền nghiêm trọng. Lực của ĐCSVN là lực đang trên đà tan rã từng phần đến toàn phần.
II – Thế và lực của lực lượng dân chủ
Vì khuôn khổ của tờ báo có hạn nên xin được chỉ đề câp đến những lực lượng dân chủ đang đãu tranh trực diện tồn tại ngay trong lòng chế độ cộng sản. Tôi có dịp may nhiều lần trao đổi với nhà văn Vũ Thư Hiên, về lực lượng dân chủ trong nước, ông cho rằng họ đang còn rất mỏng và yếu, nhưng lý luận của họ lại hết sức sắc bén và có sức thuyết phục. Và chính lý lẽ sắc bén này đã làm chính quyền phải hoảng hốt đói phó. Dù bị chính quyền dùng mọi thủ đoạn, từ khủng bố, bắt bớ, đến giam cầm, chia rẽ, bôi nhọ, mua chuộc… nhằm tách họ ra khỏi khối đại chúng nhân dân, nhưng vẫn không đè bẹp được ý chí của những người có tư tưởng yêu chuộng tự do, muốn dân chủ hoá đất nước, để đưa VIệT NAM thoát khỏi cảnh lạc hậu và lạc điệu, vươn lên bắt kịp sự tiến bộ của các nước trong khu vực và thế giới. Có thể nói số người tham gia vào lực lượng dân chủ hiện nay đang tăng lên theo cấp số nhân. Và ngay trong bản thân lực lượng dân chủ này cũng có hai điều nổi bật đáng chú ý
1 – Sự tham gia và dấn thân của giới trẻ.
Sự kiện luật sư Lê Chí Quang, bác sỹ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn… đồng loạt xuất hiện. Họ không chỉ là người có tâm huyết, có trình độ năng lực, mà điều đáng nói nhất là họ đặt dấu chấm hết cho sự thờ ơ của giới tre? VIệT NAM trước thời cuộc. Dù tất cả những chiến sỹ dân chủ trẻ đều đã bị bắt, mà mục tiêu của chính quyền là dể khủng bố và de doạ tinh thần của lớp trẻ (trả lời phỏng vấn của hai phát ngôn viên nhóm Dân Chủ VN Phạm Quế Dương và Trần Khuê cho mạng lưới Tuổi Trẻ VIệT NAM Lên Đường ngày 28 / 9 / 2002).
Chủ nhiệm khoa luật trường đại học Tổng hợp Hà Nội, ông Ngô Ngọc Thuy?, lúc đầu đã nhận ra toà bào chữa cho cậu học trò xuất sắc Lê Chí Quang, nhưng do sự khủng bố của công an bàng những lời đe doạ trắng trợn: Thế ông ra toà bào chữa cho Lê Chí Quang thì ai sẽ ra toà bào chữa cho ông? nên ông đành rút lui. Nhưng điều đáng nói ở đây là chắc chắn đã có nhiều thầy giáo, các bạn sinh viên ở Hà Nội đã biết đến việc làm của Lê Chí Quang. Những người CS đã từng tuyên bố: Biến nhà tù thành trường học, thì rồi đây chính nhà tù của chính quyền CS sẽ tôi luyện và đào tạo họ trở thành những trụ cột của cuộc đãu tranh nhằm dân chủ hoá đất nước nay mai và họ sẽ trở thành những tấm gương sáng và niềm tự hào của lớp tre? VIệT NAM. Ngày ấy chính quyền CS không những chỉ phải đối phó với những nhà dân chủ trẻ đơn lẻ, mà họ sẽ phải chống chọi với cả một thế hệ trẻ. Liệu họ có đủ sức chăng?
2 – Sự ra đời của nhóm dân chu? Việt Nam
Nếu ta coi sự dấn thân của những nhà tranh đấu trẻ đã đánh dấu chấm hết cho sự thờ ơ của thanh niên VIệT NAM với đất nước, thì sự ra đời của Nhóm Dân Chủ VIệT NAM ngày 2/ 8 / 2002 sẽ chấm dứt thời kỳ đãu tranh đơn lẻ của những nhà dân chủ trong nước. Có thể sự chuẩn bị ra đi của cựu trung tướng Trần Độ ( 9/ 8 / 2002) là một trong những lý do quan trọng nhất khiến họ đi đến hình thành một tổ chức, để vừa có thêm sức mạnh, vừa để thực hiện ước mơ lý tưởng dân chủ hoá đất nước của các vị tiền bối. Nhóm Dân Chủ VIệT NAM ra đời mà nòng cốt của nó là những nhân vật dân chủ nổi tiếng quen thuộc như các ông: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến… với hai người đại diện phát ngôn viên là ông Phạm Quế Dương ở Miền Bắc và nhà nghiên cứu Hán Nôm Trần Khuê ở phía Nam đã mở ra một triển vọng mới vì rất có thể đây sẽ là nơi hội tụ tất cả những nhà đãu tranh dân chủ trong cả nước.
Chỉ 12 ngày sau sự kiện trên, dù thời hạn quản chế vẫn còn năm tháng nữa, nhưng tiến sỹ Hà Sỹ Phu đã chính thức tuyên bố gia nhập vào nhóm Dân Chủ này. Điều đó khẳng định khủng bố và nhà tù không hề lung lay được ý chí của những người VIệT NAM yêu nước.
Cuộc Cách Mạng Nhung ở Tiệp Khắc là thành qủa xuất phát từ nhóm hạt giống trong Hiến Chương 77. Công cuộc dân chủ hoá đất nước Ba Lan bắt nguồn từ một nhóm đoàn viên công đoàn Đoàn Kết thuộc xưởng đóng tàu Gland. VIệT NAM có làm được điều tương tự? Lịch sử sẽ trả lời, nhưng chúng ta có quyền hy vọng vào điều đó.
III Chúng ta sẽ làm gì để bảo vệ những nhà dân chủ
Rồi đây chính quyền sẽ lại tìm đủ mọi thủ đoạn hèn hạ như đã từng làm để đàn áp những nhà dân chủ. Họ đang tìm mọi nguyên cớ để bắt giam ông Phạm Quế Dương. Tất cả những người đãu tranh cho tự do, dân chủ dù bất cứ ở đâu trên quê hương VIệT NAM, dù xuất thân từ bất cứ thành phần nào trong quá khứ, dù đang nằm trong vòng lao lý của chế độ hay còn tạm thời bị quản chế, theo dõi thì sức khỏe và tính mạng của họ vẫn đáng được chúng ta coi là tài sản của quốc giạ
Ngày 15 / 9 / 2002 bà Nguyễn Thị Kim Chung, mẹ của luật sư Lê Chí Quang, bà Vũ Thuý Hà vợ bác sỹ Phạm Hồng Sơn, bà Nguyễn Thị Quyết mẹ của nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn, cùng em trai anh là Nguyễn Xuân Phúc từ Hà nội – nơi mà Nguyễn Khắc Toàn có lần đã gọi là vùng tạm chiếm – gửi đi một bức thư ngỏ tới toàn thể nhân dân VIệT NAM trong và ngoài nước, các tổ chức hội đoàn, các quốc gia yêu chuộng tự do dân chủ, yêu cầu can thiệp buộc chính quyền CS phải trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho chồng con của họ. Cuộc đấu tranh để mọi người Việt Nam được hưởng quyền làm người đúng nghĩa như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Hiến chương 2000 đã tuyên nhận, đồng thời bảo vệ những nhà dân chủ đang trực diện đãu tranh với chế độ là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Vấn nạn trên không dành riêng cho một cá nhân nào, một tổ chức hội đoàn nào,mà là chung cho tất cả mọi người – những người không chấp nhận chủ nghiã và chế đô. CS. Muốn thế chúng ta phải nỗ lực vận động và áp lực lên chế độ cùng lúc với cộng đồng quốc tế, mà ngày biểu tình trước các sứ quán CSVN trênthế giới 21-9-2002 đòi Dân Chủ và Nhân Quyền cho VN do các Dân Biểu Quốc Hội Âu Châu và Đảng Cấp Tiến Liên Quốc Gia chủ xướng, là một nỗ lực hiệp đồng quốc tế đáng kể.
Nhân kỷ niệm 2 năm Hiến Chương 2000 sắp đến, Hiến Chương này chắc chắn sẽ được đăng tải lại trên mặt báo KTTT. Mong anh chị em tranh đấu trong nước sẽ đọc lại Hiến Chương này để rút tỉa nhiều điều quan thiết cho mặt trận đấu tranh dân chủ và nhân quyền chống lại Đảng Cộng Sản, nhất là sự tranh đấu cho các quyền căn bản nhằm hình thành một xã hội dân sự tại Việt Nam, đã được dự liệu trong Tuyên Ngôn của HC 2000; những quyền như là: Tự Do Báo Chí, Tự Do Lập Hội, Tự Do Nghiệp Đoàn, Tự Do Lương Tâm và Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Ứng Cử và Bầu Cử, Tự Trị Đại Học, và nhiều quyền kinh tế và dân sinh nữa. Muốn Việt Nam ngóc đầu lên được, bằng mọi giá phải tranh đấu cho bằng được các quyền căn bản đã bị tước đoạt.
Germany, 15 / 10 / 2002
PICTURE/HÌNH
Nhà Tranh Đấu Đông Âu DƯƠNG VĂN THƯỞNG đang ký kết HIẾN CHƯƠNG 2000 tại Đại Hội Thế Giới Công Bố Hiến Chương 2000 ngày 25-26/11/2000, Paris, Pháp. Ông cùng phái đoàn Đông Âu cả chục vị đã tham dự Đại Hội Lịch Sử này/
Democracy Activist
DƯƠNG VAN THUONG
(Former Secretary for Tran Xuan Bach – a Politburo Member & Secretary of the CPV’s Central Committee) participated in the World Conference to Proclaim Charter 2000 on Nov. 25-26/2000, Paris – France)
![]()
The new turn of the Viet struggle
Duong Van Thuong
Germany
It is only a matter of months since early 2002 that the Vietnam politics has made a significant turn in the counter-attacks between Viet democratic forces and the Communist Party of Vietnam. The CPV tried any way to hold on to power, while Viet democratic forces manipulated various ways to turn Vietnam into a democratic country. This war has been so tough upon the death of former General Tran Do who had a great role in bringing the CPV to victory in his days of military services as well as in the days he took charge of the Culture and Thoughts Committee and Vice Chairman of the National Assembly. He awakened years ago and led the communist progressive elements in their struggle for the democratization of VN.
- The CPV is facing a serious situation upon its concessions of land/sea to China. The CPV signed two treaties with China: The Vietnam – China Land Boundary Treaty of December 30, 1999 and the Vietnam – China Sea Boundary Treaty of December 25, 2000. The reactions have been massive: Viet overseas and international media published the letter that Premier Pham van Dong sent to Zhou Enlai in 1954 to recognize the sovereignty of China over Paracel and Spratly Islands. Furthermore, the Nam Can (the greatest gang in VN) affair has made the people lose their confidence in the CPV. Previously, the CPV talked to the “peaceful revolution” conducted by the enemies, now they mentioned the self peaceful revolution emerged among the components of Viet people.
- In the meantime, youths and students participated in struggle activities. The prominent cases were those of Le Chi Quang, Pham Hong Son, Nguyen Vu Binh, Nguyen Khac Toan. Head of the Law Department, University of Hanoi agreed to take care of the trial of Le Chi Quang, . The formation of what is called: THE VIETNAM DEMOCRACY GROUP marked the sharp change of the attitude of the defiants against the communist regime. They no longer fear the regime. And this matters.!
![]()
CUỘC ĐẤU TRÍ GIỮA BUSH VÀ HUSSEIN SAU NGHỊ QUYẾT 1441 CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN
Trần Bình Nam
Hôm Thứ Sáu 8 tháng 11 Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc với 15 phiếu thuận, nhất trí thông qua Nghị quyết 1441 buộc Iraq tự ý giải giới vũ khí hoá học, vi trùng và nguyên tử, nếu không sẽ lãnh hậu quả, có nghĩa Hoa kỳ và đồng minh sẽ giải giới bằng vũ lực.
Ba nước Pháp, Trung quốc và Liên bang Nga, một phần vì lợi riêng, một phần vì không muốn Hoa Kỳ hành động đơn phương làm lu mờ vai trò của họ là Ủy viên Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc có quyền phủ quyết, đã cật lực thương thuyết với Hoa Kỳ trong hai tháng qua (từ ngày 12/9/2002 sau khi tổng thống Bush đọc diễn văn trước đại hội đồng Liên hiệp quốc yêu cầu cộng đồng quốc tế phải hành động chận đứng các chương trình vũ khí giết người tập thể của Iraq nếu không Hoa kỳ sẽ phải hành động một mình) để đạt đến một bản văn lời lẽ mạnh mẽ như Hoa Kỳ đòi hỏi, nhưng trước sau vẫn qui định rằng trong trường hợp Iraq bác bỏ Nghị quyết hay chấp thuận thi hành nhưng vi phạm, Hoa Kỳ cũng chỉ được phéùp dùng vũ lực khi được Hội đồng Bảo an chấp thuận.
Nghị quyết qui định trong hạn 30 ngày Iraq phải báo cáo với Ủy ban Kiểm tra Vũ khí của Liên hiệp quốc (U.N. Monitoring, Verification and Inspection Commission UNMOVIC), với Cơ quan Nguyên Tử năng Quốc tế (International Atomic Energy Agency IAEA) và với Hội đồng Bảo an tất cả các chương trình liên quan đến ba loại vũ khí nói trên. Báo cáo sai, báo cáo thiếu, hay không thi hành nghiêm chỉnh Nghị quyết đều được Hội đồng Bảo an xem xét tìm biện pháp trừng phạt. Hai Ủy ban UNMOVIC và IEAE có nhiệm vụ bắt đầu cuộc kiểm tra trong hạn 45 ngày từ ngày ký Nghị quyết và báo cáo với Hội đồng Bảo an 60 ngày sau đó. Ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc có nhiệmvụ thông báo Nghị quyết này đến Iraq và yêu cầu Iraq thi hành nghiêm chỉnh và vô điều kiện. Iraq có 7 ngày để cho biết ý định thi hành hay không. Ông Chủ tịch UNMOVIC và ông Giám đốc IAEA báo cáo tức khắc cho Hội đồng Bảo an mọi vi phạm hay bị cản trở từ phiá Iraq không cho Ủy ban Kiểm tra làm tròn nhiệm vụ. Nghị quyết gồm một số điều khoản khắc khe khác như các cơ sở thuộc phủ tổng thống của Saddam Hussein đều được thanh tra nếu Ủy ban thấy cần. Trước khi Ủy ban đến thanh tra một nơi nào Ủy ban có quyền ra lệnh máy bay và xe cộ của Iraq không được ra vào khu đó để tẩu tán bằng chứng. Và Ủy ban có quyền mang nhân chứng và gia đình ra khỏi Iraq để điều tra để tránh sự đe dọa của chính quyền Iraq. Sau cùng Hội đồng Bảo an sẽ được triệu tập khi được báo cáo một sự vi phạm nào đó để quyết định biện pháp.
Theo lịch trình ấn định bởi Nghị quyết, Iraq phải trả lời trước ngày 15/11/02, và phải hoàn tất bản báo cáo về vũ khí giết người tập thể của mình trước ngày 8/12/02. UNMOVIC và IAEA bắt tay vào việc kiểm tra kể từ ngày 23/12/02 và Hội đồng Bảo an sẽ nhận được báo cáo của Ủy ban Kiểm tra chậm nhất là ngày 21/2/2003.
Đối với tổng thống George W. Bush, sự giải giới vũ khí giết người tập thể của Iraq chỉ là một phần của vấn đề. Vấn đề chính là Saddam Hussein phải ra đi và tại Iraq có một chính quyền thân Hoa Kỳ. Ông Bush không dấu diếm ý định này khi tuyên bố rằng: đã đến lúc nhân dân Iraq được quyền thoát khỏi kềm kẹp, tìm lại tự do và sống trong hy vọng … ngay sau khi Hội đồng Bảo an vừa thông qua Nghị quyết 1441. Đối với Saddam Hussein, trái lại, là làm thế nào để tồn tại và dù ở đâu vẫn có khả năng tạo sự bất an cho Hoa Kỳ.
Cuộc đấu trí giữa Bush và Hussein sau Nghị quyết ngày 8/11/2002 trên căn bản là vậy.Trong cuộc đấu trí này Saddam có thể sẽ nuốt nhục nhượng bộ bước đầu và thi hành Nghị quyết. Ông ta sẽ phải hy sinh các chương trình vũ khí giết người tập thể và cả các nhà khoa học của ông ta để Hoa Kỳ không thể kiếm cớ đánh Iraq. Cũng có thể từ năm 1998 sau khi đoàn thanh tra vũ khí do ông Richard Butler cầm đầu rút ra khỏi Iraq, Saddam Hussein đã cho chôn dấu thật kỹ các chương trình vũ khí của ông và sẽ chối phăng ông ta chẳng hề có vũ khí giết người tập thể. Có chỉ dẫn cho thấy Saddam Hussein chọn con đường phiêu lưu này.
Hôm Thứ Tư 13/10, hai ngày trước hạn kỳ trả lời, bộ trưởng ngoại giao Iraq ông Naji Sabri gởi ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan một bức thư dài 9 trang chấp nhận Nghị quyết 1441 và sẵn sàng đón đoàn thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc. Tuy nhiên không bỏ lỡ cơ hội truyền thông bức thư tố cáo tổng thống Bush và thủ tướng Anh Tony Blair đã bịa đặt chuyện vũ khí giết người. Bức thư xác nhận Iraq không có chương trình vũ khí hoá học, vi trùng và nguyên tử nào cả (sic). Trước đó Saddam Hussein đã chỉ thị cho Quốc hội Iraq do ông kiểm soát họp và công khai bỏ phiếu bác bỏ Nghị quyết của Liên Hiệp quốc.
Đó là hiệp một. Saddam Hussein luồn qua vòng tay tránh cú đấm đầu tiên của Bush. Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ có thể hy vọng rằng sự thi hành từng chữ Nghị quyết 1441 sẽ làm cho uy tín của Saddam Hussein giảm sút và sẽ bị các lực lượng chính trị đối lập lật đổ. Hoa Kỳ đã có chương trình nuôi dưỡng lực lượng đối lập này. Tuy nhiên các lực lượng đối lập này chưa đủ mạnh và việc mất các thứ vũ khí hoá học, vi trùng hay nguyên tử (nếu có) không làm cho bộ máy an ninh vốn trung thành tuyệt đối với Saddam Hussein yếu đi. Dân chúng Iraq vẫn còn ủng hộ Saddam Hussein và quân lực của Saddam Hussein cũng không vì thiếu các thứ vũ khí giết người tập thể mà yếu đi. Vũ khí chính yếu của quân đội Iraq là vũ khí cổ điển. Thế của Iraq đối với các quốc gia Hồi giáo chung quanh vẫn còn mạnh. Cho nên khả năng còn tồn tại của Saddam Hussein để vẫn lãnh đạo Iraq sau khi từ bỏ các loại vũ khí giết người tập thể có một xác suất rất cao.
Nếu sự việc diễn tiến như vậy, và nếu đoàn thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc của ông tân đoàn trưởng Hans Blix không tìm thấy dấu vết gì thì Hoa Kỳ sẽ có những khó khăn. Trước hết Liên hiệp quốc cho rằng Iraq đã thi hành các Nghị quyết của Liên hiệp quốc sẽ đề nghị giải tỏa lệnh phong tỏa kinh tế của Liên hiệp quốc trước đây mà Hoa Kỳ rất khó có lý do bác bỏ. Thứ hai Hoa Kỳ không thể duy trì mãi tại Trung đông một lực lượng quân sự có khả năng tấn công Iraq vì lý do kinh tế.
Saddam Hussein sẽ đánh hiệp hai khi Hoa Kỳ đã rút bớt quân về. Saddam Hussein sẽ lén lút xây dựng lại các chương trình vũ khí nguyên tử, hóa học và vi trùng của ông ta. Với khả năng trinh thám bằng vệ tinh và các hoạt động gián điệp khác Hoa Kỳ có thể biết được các vi phạm này, nhưng Hoa Kỳ không có lực lượng tại chỗ để tấn công Iraq, hơn nữa lại còn phải thông qua thủ tục quốc tế. Bản cũ soạn lại, và nhiều câu hỏi sẽ đặt ra: phản ứng của thế giới ra sao? Bush còn tại chức không? Cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ bước qua giai đọan nào? Hoa Kỳ còn duy trì chính sách cứng rắn hay không?
Nếu Hoa Kỳ chần chừ Saddam thắng hiệp hai. Nếu Hoa Kỳ quyết so găng (cuộc so găng cũng có thể xẩy ra sớm hơn nếu ngày 8/12/2002 tới Saddam Hussein gởi một báo cáo trắng đến Hội đồng Bảo an và Hoa Kỳ có bằng chứng trình Hội đồng rằng Saddam báo cáo láo) Saddam Hussein vẫn còn một chọn lựa cuối cùng là đương đầu với Hoa Kỳ trên chiến trường. Ông ta sẽ tung tất cả vũ khí giết người tập thể có trong tay giết càng nhiều quân nhân Mỹ càng tốt rồi rút lui vào bóng tối lãnh đạo một cuộc chiến tranh vừa du kích vừa khủng bố chống Hoa Kỳ như Osama bin Laden đang làm.
Trong hai tháng 10 và 11 năm 2002 tổng thống Bush thắng lớn. Thứ nhất là lưỡng viện quốc hội (dù Thượng viện còn trong tay của đảng Dân chủ đối lập) thông qua Quyết nghị cho phép tổng thống dùng vũ lực. Thứ hai trong cuộc bầu cử giữa hai nhiệm kỳ vừa qua (5/11/2002), thông thường đảng cầm quyền mất ghế, đảng Cộng Hòa của ông đại thắng, chiếm đa số vững vàng tại hai viện quốc hội chứng tỏ nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ đường lối chủ chiến của ông. Thứ ba là với sự cương quyết cá nhân, cộng với sự ủng hộ của Quốc hội và nhân dân ông đã thuyết phục Hội đồng Bảo an đồng thuận thông qua Nghị quyết giải giới Iraq. Sau cùng Saddam Hussein, kẻ thù không đội trời chung với họ Bush vuốt mặt nhuợng bộ bước đầu.
Nhưng vinh quang không làm ông bớt nhức đầu chừng nào Saddam Hussein còn tồn tại dù đã bị giải giới thật hay giả giải giới. Trong bối cảnh tâm lý đó, người ta dự đoán rằng Bush phải có một kế hoạch nào khác nữa ngoài Nghị quyết 1441 của Hội đồng Bảo an để chuẩn bị đánh một lá bài cao hơn lá bài của Saddam Hussein là nuốt nhục thi hành (hay vờ thi hành) Nghị quyết của Hội đồng Bảo an để tránh búa rìu nhất thời của Hoa Kỳ chờ cơ phục hận.
Bush chỉ thắng cuộc đấu trí này bằng cách không cho Saddam Hussein một cơ hội nào tồn tại để phục hận.
Nov. 16, 2002
Binhnam@aol.com
http://www.vnet.org/tbn
![]()
Charter 2000: A manifestation of the unyielding spirit of the people of Vietnam
Dr. THONG DINH LE
Lecturer of Politics
University of Paris
Charter 2000′s Spokesperson (in charge of specialized matters) – Western Europe
Two years ago, CHARTER 2000 was proclaimed on November 26, 2000 at the FIAP centre, Paris – France. This historical document inherited the general spirit of CHARTER’77 of Czechoslovakia (which meant using the legal and democratic grounds of the Charter to struggle for freedom and democracy of the people, since both Charter 2000 and Charter’77 were based on the principles and articles of the Universal Declaration of Human rights).
Charter 2000 includes 5 Titles:
- Preamble
- Title I: Crimes and Human Rights Violations of the Vietnamese Communist Regime
- Title II: The Disastrous Effects of the Totalitarian Regime on Economic, Social and Cultural Domains
- Title III: A Common Struggle Front to Resolve the Matter of Vietnam
- Title IV: Struggling for the Fundamental Rights and Freedoms and the Vietnam Model of Democracy
- Title V: Implementation of Charter 2000
In comparison, the spirit of Charter’77 and Charter 2000 was almost identical: eliminating the violations of human rights and liberating the Czechoslovakian and Vietnamese peoples from a totalitarian regime. One difference, however, was noted: the embriogeny and formation of Charter’77 and that of Charter 2000: The Charter’77 embriogeny, drafting and proclamation were made inside Czechoslovakia, while the consultations and drafting of Charter 2000 were conducted by Viet patriots overseas. Vaùc lav Havel – one of three key Spokespersons of Charter’77 recalled the formation of Charter’77 as follows:
“…The first meeting for the purpose took place on December 10, 1976. The participants included: Mlynar, Kohout, Nemec, Komeda (owner of the house) and me (Havel). Afterward, there were two more meetings. The former communist party members together with Mlynar formed the Human Rights Committee and the Helsinki Committee. The human resources of these two committees were very limited.Therefore, we decided to form an association – the one of pluralism oriented. Equality for all the members was applied. Hejdanek suggested the Universal Declaration of Human rights be the base (for the document). Pavel Kohout proposed the document be called “CHARTER’77″. In the two consecutive meetings, we weighed each word carefully on the draft.”
Charter 2000′s embriogeny and drafting was completed overseas; therefore, massive debates and consultations as well as the formation of 7 groups of scholars, professionals, academics, community and human rights activists to take care of the drafting had been done for a period of 15 months before the World Conference to Proclaim Charter 2000 was held on 25-26 November 2000 at the FIAP Centre, Paris. Since the day of its proclamation, Vietnam and international econo-politics have gotten through dramatic changes that affect the Communist Party of Vietnam’s power:
- In Vietnam, the model of pluralism has day after day expanded, in the domain of economics and foreign affairs. Vietnam Head of State Tran Duc Luong had to sign the Communique ù of the Liban Francophone Summit to heighten pluralist democracy in Oct. 2002.
- Economic liberalization is inevitable in VN as institutional changes have to be performed to keep foreign investors in the country and the international finance institutions to get involved.
HIẾN CHƯƠNG 2000 : UY VŨ BẤT NĂNG KHUẤT
LÊ ĐÌNH THÔNG
HÌNH/PICTURE:
GS Lê Đình Thông – Phó Trưởng Ban Tổ Chức Đại Hội Paris trong ngày công bố Hiến Chương 2000 tại Hội Trường Quốc Tế FIAP, Paris, 26-11-2000/Dr. Le Dinh Thông – Lecturer of Politics, University of Paris, Assistant Head of the Local Organizing Committee, World Conference to Proclaim Charter 2000 (Nov.26/2000 Paris)
Cách đây hai năm, Hiến Chương 2000 đã được công bố tại Paris vào ngày 26-11-2000. Bản văn này đã đúc kết các bản phúc trình của bảy nhóm công tác gồm việc phân tích hiện tình chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước trước khi đề nghị một mô hình dân chủ Việt Nam. Hiến Chương này có thể được xét đến qua hai khía cạnh : lịch sử và chính trị.
I – BIỆN CHỨNG LỊCH SỬ CỦA HIẾN CHƯƠNG 2000 :
Trong phạm vi pháp lý, việc ký kết (conclusion) nhằm kết thúc cho một tiến trình trao đổi và thảo luận :
- Conclusions (viết ở số nhiều) là bản lý đoán (về hộ) hoặc biện minh trạng (về hình).
- Conclusion (số ít) là đoạn kết của một luận văn nói chung.
Hiến Chương 2000 cũng như bất cư một hiến chương nào khác có một tiến trình đảo ngược : việc ký kết mở đầu cho giai đoạn vận động nhằm thực hiện một hoặc nhiều mục tiêu được ghi trong hiến chương. Nói khác đi, hiến chương mang tính biện chứng (dialectique) diễn tiến trong lịch sử. Khác với các văn kiện mang đặc tính tĩnh (statique), hiến chương bao giờ cũng động (dynamique). Thời gian của hiến chương là : (Thời gian) = n + 2.
Ý nghĩa của từ ngữ ”Hiến chương” trong tiếng Việt mang dự phóng vận động thay vì hoàn tất :
- HIẾN (bộ Tâm) vừa có nghĩa là phép tắc, vừa có nghĩa là làm cho sáng tỏ.
- CHƯƠNG (bộ Lập : đứng thẳng) có nghĩa là sáng sủa.
Hiến chương nào cũng khởi đi từ hiện tình tăm tối nhằm đạt tới viễn tượng sáng sủa trong tương lai. Ta có thể dẫn chứng Hiến chương 1000 của Lý Thường Kiệt :
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (hiện tại) → Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (tương lai) (ký hiệu → nghiã là “tiến đến”)
Hiến Chương 2000 bao gồm 5 bước tiến :
Tội ác và vi phạm nhân quyền của chế độ cộng sản Việt Nam → Hệ quả của chuyên chính trên các bình diện kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam → Mặt trận kết hợp đấu tranh để giải quyết vấn đề Việt Nam →Tranh đấu cho các quyền căn bản của người dân Việt và mô hình dân chủ Việt Nam → Công cuộc thực hiện hóa Hiến Chương 2000.
1) Lược sử hiến chương đối chiếu :
Lịch sử hiến chương khởi đầu với Đại Hiến chương (Magna Carta) do các huân tước Anh gởi Vua Jean sans Terre ở Runnymede, gần Windsor (1215). Năm 1265, vua Henri III công nhận Hiến chương. Magna Carta qui định các quyền tự do tôn giáo của Giáo hội và các đảm bảo pháp lý cho người dân. Bản văn này trở nên biểu tượng của công cuộc tranh đấu chống lại quyền hành độc đoán. Tại Pháp có Hiến ước 1814 (Charte constitutionnelle).
Văn bản được coi là tiền đề cho Hiến chương 2000 là Hiến chương 77 của Tiệp Khắc. Vaclav Havel, phát ngôn viên của Hiến chương 77, đã nhắc lại sự hình thành của Hiến chương 77 như sau : ”.Buổi họp đầu tiên diễn ra ngày 10-12-1976 (hơn một năm sau ngày miền Nam lọt vào tay cộng sản), có Mlynar, Kohout, Nemec, người chủ nhà, Komeda và tôi (Havel). Sau đó còn hai buổi họp khác nữa. Các cựu đảng viên cộng sản cùng với Mlynar thành lập ủy ban Nhân quyền và một ủy ban khác lấy tên là Helsinki. Nhân sự của hai ủy ban này rất giới hạn. Vì vậy, chúng tôi quyết định thành lập một hiệp hội mang tính đa nguyên. Các hội viên đều bình đẳng. Hejdanek đề nghị lấy Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền làm cơ sở. Pavel Kohout đề nghị bản văn mang tên là Hiến chương 77. Trong hai phiên họp kế tiếp, chúng tôi cân nhắc từng chữ trong dự thảo.”
2) Nội dung Hiến chương 77 : Vào ngày công bố (1-1-1977), Hiến chương 77 có 257 chữ ký. Sau này, hiến chương có 1200 chữ ký. Nôi dung của hiến chương 77 như sau :
”Công báo số 120 ngày 23-10-1976 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc công bố Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã được Tiệp Khắc ký kết năm 1968, phê chuẩn năm 1975 và có hiệu lực ngày 23-3-1976. Kể từ ngày này, các công dân Tiệp Khắc có quyền và Nhà nước có bổn phận bảo đảm các quyền tự do ghi trong Công ước.
”Các tự do và nhân quyền được hai công ước quốc tế bảo đảm nói lên các giá trị của nền văn minh mà các lực lượng tiến bộ tranh đấu qua dòng lịch sử. Việc ban hành hai văn bản này góp phần vào việc phát triển việc tôn trọng con người trong xã hội.
”Hàng trăm ngàn công dân nhận thấy không được quyền ”giải thoát khỏi sự sợ hãi (libération de la peur) (được ghi trong phần dẫn nhập công ước), bởi vì họ bị bắt buộc phải sống trong sự đe dọa thường trực, bị mất việc nếu họ phát biểu ý kiến.
Trong phần kế tiếp, Hiến chương 77 tố cáo sự vi phạm quyền tự do học tập, quyền tự do tìm kiếm tin tức, việc tiếp nhận và phổ biến những thông tin và những tư tưởng, quyền tự do phát biểu, tự do tôn giáo.
Hiến chương 77 đã giải thích nguyên nhân tình trạng vi phạm các quyền tự do và các nhân quyền như sau :
”Việc hạn chế, ngay cả bãi bỏ hoàn toàn một loạt các quyền công dân phát xuất từ hệ thống định chế và tổ chức Nhà nước lệ thuộc các cấp ủy đảng và quyền định đoạt xuất phát từ vài nhân vật có thế lực trong bộ chính trị.
”Bộ Nội vụ xâm phạm đời sống riêng tư và gia đình, cư sở và thư từ. Bộ này nghe lén điện thoại, đặt máy vi âm trong các căn hộ, kiểm soát thư từ, theo dõi (filatures), xét nhà (perquisitons), thiết lập hệ thống chỉ điểm (réseau d’informateurs). Những người bầt đồng chính kiến bị truy tố về hình sự (thay vì chính trị), trong thời gian giam cầm, họ bị đối xử trái với nhân phẩm, phương hại đến sức khoẻ và tinh thần của người bị giam giữ.”
Sau phần mở đầu, văn bản viết : ”Hiến chương 77 là một cộng đồng tự do, không chính thức và mở rộng, gồm những người thuộc về chính kiến, tín ngưỡng và nghề nghiệp khác nhau, họp nhau lại bởi ý muốn tham gia với danh nghĩa cá nhân hoặc tập thể nhằm đòi hỏi các nhân quyền cũng như các quyền công dân phải được tôn trọng trên đất nước ta cũng như khắp nơi trên thế giới – các quyền mà hai công ước quốc tế công nhận có hiệu lực pháp lý căn cứ vào bản văn kết thúc hội nghi. Helsinki cũng như nhiều văn kiện quốc tế khác chống lại chiến tranh, sự bạo hành, sự áp bức được nói đến trong bản Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
”Hiến chương 77 được phát triển trên mảnh đất của sự đoàn kết và thân hữu giữa những ai cùng chia xẻ mối lo âu về số phận của những lý tưởng tự do, dân chủ.
”Hiến chương 77 không phải là một tổ chức, không có qui chế, cũng không có các cơ cấu thường trực ; không qui định điều kiện gia nhập. Tất cả những ai đồng ý với những nguyên tắc ghi trong Hiến chương, từng tham gia vào công việc soạn thảo và ủng hô. Hiến chương đều là thành phần của Hiến chương.
”Bởi danh xưng mang tính biểu tượng, Hiến chương 77 nhấn mạnh bản văn này đã được ra đời vào ngưỡng cửa năm mới, từng được tuyên nhận là Năm các quyền của tù nhân chính trị (Année des droits des prisonniers politiques), trong khuôn khổ năm quốc tế này, hội nghi. Helsinki sẽ phải xét đến việc thực hiện những cam kết trước đây ở Helsinki.
Chúng tôi tin rằng Hiến chương 77 sẽ đóng góp vào viễn tượng trong đó mọi công dân Tiệp Khắc đều sống và làm việc như những con người tự do (travailler et vivre comme des hommes libres).”
Hiến chương 2000 có nhiều điểm tương đồng so với Hiến chương 77. Cả hai đều ra đời nhằm chống lại chế độ toàn trị ”phát xuất từ hệ thống định chế và tổ chức Nhà nước lệ thuộc các cấp ủy đảng ; quyền định đoạt xuất phát từ vài nhân vật có quyền thế trong bộ chính tri Cả hai đều chống lại ”việc hạn chế, ngay cả bãi bỏ hoàn toàn một loạt các quyền công dân” nhằm ”giải thoát (con người) khỏi sự sợ hãi (libération de la peur) ; tiến tới tái lập ”các nhân quyền cũng như các quyền công dân” trên đất nước. Về cơ cấu, cả hai gồm nhiều thành phần xã hội, tôn giáo khác nhau trong một tập hợp dân chủ đa nguyên. Hai hiến chương đều lấy tên năm công bố làm danh hiệu : Hiến chương 77 được công bố ngày 1-1-1977, Hiến chương 2000 bắt đầu thiên niên kỷ mới nhằm mục tiêu tối hậu là tiến tới việc ”mọi công dân được sống và làm việc như những con người tự do (travailler et vivre comme des hommes libres)”. Cả hai đều ”không phải là một tổ chức, không có qui chế, cũng không có các cơ cấu thường trực ; không qui định điều kiện gia nhập. Tất cả những ai đồng ý với những nguyên tắc ghi trong Hiến chương, từng tham gia vào công việc soạn thảo và ủng hô. Hiến chương đều là thành phần của Hiến chương.”
Mười năm sau Hiến chương 77, tháng 4-1987, nhóm Hiến chương 77 đã gởi thư cho chủ tịch Liên Xô Gortbatchev yêu cầu Hồng quân Liên Xô triệt thoát khỏi Tiệp Khắc. Ngày 10-12-1987, tại thủ đô Prague, hơn một ngàn người tổ chức lễ kỷ niệm ngày ban hành Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tháng 3-1988, 5 000 người dự thánh lễ cầu nguyện cho tự do tôn giáo. 21-8-1988, 10 000 người biểu tình chống lại việc Hồng quân Liên Xô chiếm đóng Tiệp Khắc ròng rã 20 năm. Tháng 11-1989, nhiều cuộc biểu tình và đình công đưa đến cuộc cách mạng nhung (révolution de velours) nhằm bãi bỏ chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc.
Lộ trình dân chủ tại Tiệp Khắc là 12 năm, kề từ ngày công bố Hiến chương 77. Lộ ttrình dân chủ tại Việt Nam sẽ là bao nhiêu năm. Đó là đối tượng của phần II bàn về tình hình chính trị và kinh tế sau Hiến chương 2000.
II – DIỄN TIẾN CHÍNH TRỊ SAU HIẾN CHƯƠNG 2000 :
Kể từ ngày công bố Hiến chương 2000 đến nay, nhiều sự kiện trong nước và khu vực diễn tiến một cách biện chứng, tiến gần tới mô hình dân chủ đa nguyên.
1) Biểu nhất lãm dân chủ trong nước : Tại Việt Nam, mô hình đa nguyên ngày càng được khai triển trong nhiều lãnh vực – ngoại trừ lãnh vực chính trị – nổi bật hơn cả là hai lãnh vực kinh tế và đối ngoại. Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước có chế độ chính trị khác nhau, gia nhập nhiều tổ chức quốc tế như Khối Pháp ngữ. Trong hội nghị thượng đỉnh của khối này được tổ chức tại Liban vào trung tuần tháng 10-2002, chủ tịch Trần Đức Lương đã ký vào bản thông cáo chung đề cao dân chủ đa nguyên, coi đó là tiền đề của phát triển kinh tế.
Các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các định chế kinh tế và tài chính quốc tế không ngừng tác động chính phủ cũng như các đối tác Việt Nam để thực hiện tự do hóa kinh tế (libéralisation de l’économie), thiết lập hệ thống pháp luật thực sự, việc thay đổi các định chế (changements institutionnels) bao gồm việc tư nhân hóa, việc cải tổ hệ thống ngân hàng và việc thiết lập thị trường tài chánh. Ngoài ra còn phải kể tới hệ thống thông tin ngày càng phổ cập làm thay đổi nhận thức chính trị và kinh tế của người dân trong nước. Các yếu tố này là nguyên nhân dẫn tới các chống đối trong nhiều lãnh vực khác nhau : các cuộc biểu tình của nông dân miền đồng bằng và dân tộc ít người miền cao nguyên, các đòi hỏi tự do tôn giáo, việc tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ v.v. Các hình thức chống đối này đều là tự phát, không mang tính cơ cấu. Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều yếu tố khác như việc một số đảng viên cộng sản kỳ cựu phản tỉnh, tự nguyện từ bỏ những đặc quyền, lên tiếng đòi đảng cộng sản từ bỏ độc quyền lãnh đạo, tố cáo tệ nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng. Kinh tế thị trường đòi hỏi một hệ thống pháp luật độc lập trong khi chế độ cộng sản tỏ ra e ngại một hệ thống luật pháp có thực quyền. Vụ án Năm Cam chứng tỏ rằng quyền lực cộng sản cấu kết cùng các tổ chức tội phạm, hoặc các quan chức tham nhũng để củng cố quyền lực. Mô hình : Đảng – Tham nhũng – Tội phạm trở thành vòng luẩn quẩn, không có lối thoát.
Bản thống kê các hình thức phản kháng tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng, về lãnh vực (kinh tế, xã hội, tôn giáo.), về mục tiêu (chính trị hoặc dân sinh), về thành phần xã hội (nông dân, công nhân, tướng lãnh, trí thức) và về khu vực địa lý (nông thôn, cao nguyên, thành thị), so với những năm 90 (năm bắt đầu thực hiện kinh tế thị trường) hoặc đầu những năm 80 (kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa).
Các yếu tố này tiếp tục làm suy yếu quyền lực của đảng cộng sản trong khi nền kinh tế thị trường lâm vào tình trạng đình đốn, không còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nữa. Tình hình Việt Nam sẽ chuyển động một khi nền kinh tế trong nước lâm vào khủng hoảng. Khủng hoảng kinh tế tất yếu dẫn tới tình trạng xã hội hỗn loạn. Đó là tiền đề của cuộc cách mạng lụa (révolution de soie) bùng nổ, tương tự như cuộc cách mạng nhung từng xẩy ra tại Tiệp Khắc vào năm 1989.
Ngoài các yếu tố chính trị và xã hội trong nước còn phải kể tới trào lưu dân chủ hóa tại Đông Nam Á hiện nay.
2 ) Biểu nhất lãm dân chủ khu vực :
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAAN) thành lập ngày 8-8-1967. 35 năm sau, ASEAN tăng gấp đôi số quốc gia hội viên so với 5 nước thành lập, gồm 4,5 triệu kmỲ với dân số là 500 người. Năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Trong số 10 nước hội viên, các nước Indonexia, Philippin, Thái Lan lần lượt dân chủ hóa. Kampuchia từ chế độ cộng sản trở thành một vương quốc đa nguyên. Myanmar (Miến Điện) chấp nhận đối thoại với Bà Aung San Suu Ky, giải thưởng Nobel về Hòa bình năm 1990. Chỉ còn Việt Nam và Lào do đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo và không chấp nhập bất cứ một hình thức đối thoại nào với những phần tử bất đồng chính kiến (như trường hợp cố trung tướng Trần Độ). Vấn đề đặt ra là đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài sự độc quyền lãnh đạo đến bao giờ ?
Để trả lời câu hỏi này, ta có thể nhắc qua trường hợp Miến Điện. Bà Aung San Suu Ky đã nhận định về chế độ độc tài tại Miến Điện cũng như tại các nước Thế giới thứ ba như Việt Nam như sau : ”Các chế độ này tiếp tục cho rằng cắc nguyên tắc dân chủ tự do (principe de la démocratie libérale) là ngoại lai. Lối tuyên truyền rẻ tiền này nhằm củng cố chế độ đương quyền. Chế độ độc tài khiến các dân tộc này thua kém nhiều chục năm so với trào lưu tiến bộ của thế giới.”
Trong một tài liệu được công bố tại Nghị viện Âu châu ngày 10-7-1991 nhân lễ trao giải thưởng Sakharov 1999 về tự do tư tưởng, bà Aung San Suu Ky cho rằng :”Không phải quyền lực ngăn cản, nhưng là sự sợ hãi : nhà cầm quyền sợ mất quyền lực, người dân thấp cổ bé miệng sợ bị đầy áp. Hầu hết người Miến đều biết bốn hình thức hủy diệt : sự tham lam (chanda-gati), sự trả thù (dosa-gati), sự ngu dốt (moga-gati), nhưng điều tệ hại hơn cả là sự sợ hãi (bhaya-gati).
Sự sợ hãi mà bà Aung San Suu Ky nói đến chính là sự giải thoát (con người) khỏi sự sợ hãi (libération de la peur) được Hiến chương 77 nói đến ; hoặc lời kêu gọi ”Các con đừng sơ (N’ayez pas peur) Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II từng kêu gọi nhân dân Ba Lan nhằm hỗ trợ phong trào tranh đấu của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan. Ba Lan đã nhờ lời kêu gọi ”các con đừng sơ mà được giải thoát khỏi chế độ cộng sản. Tiệp Khắc đã nhờ ý tưởng ”giải thoát con người khỏi khỏi sự sợ hãi mà giải thể chế độ độc đoán. Tới lượt Miến Điện cũng nhờ triết lý vô úy (sans crainte) của bà Aung San Suu Ky, trước sau sẽ thoát khỏi độc tài áp bức.
Khi nhận định về bà Aung San Suu Ky, ông Vaclav Havel, phát ngôn viên của Hiến chương 77, đã cho rằng :”tiếng gào thét đòi tự do vang dậy khắp các nước độc tài châu Á (trong số có Việt Nam).
Kết luận : Tiết I mở đầu Hiến chương 2000 ghi rõ ”khi nhà cầm quyền vi phạm nhân quyền, người dân có quyền phản kháng trong sự ôn hòa. Nói khác đi, Hiến chương 2000 bắt đầu một thời đại mới : Thời đại Vô úy. Chính vì thái độ ”vô úy này, từ hai năm nay, các hình thức phản kháng trong nước ngày một thêm nhiều, thể hiện sự tranh đấu đa nguyên tiến tới việc khai tử chế độ cộng sản, một chế độ từng reo rắc sự kinh hoàng, khủng bố trên khắp đất nước suốt từ năm 1954 ở miền Bắc, và tại miền Nam từ 1975.
Viụ vậy, Hiến chương 2000 chính là Hiến chương ”uy vũ bất năng khuất”. Bản Hiến chương này tiếp nối truyền thống tranh đấu của dân tộc : trải qua các thời kỳ nhiễu nhương, đen tối, sau cùng thiết lập chế độ tôn trọng nhân quyền và dân chủ, đem lại cơm no áo ấm cho người dân.
Nhật nguyệt hối mà là minh
Kiền khôn bỉ mà lại thái
Nền vạn tuế xây nên chăn chắn
Thẹn nghìn thu rửa sạch lầu lầu. (Nguyễn Trãi)
![]()
Trông người lại ngẫm đến ta
GS NGUYỄN CAO HÁCH
Một người thân ở VN vừa gửi cho tôi một bức ảnh chụp đền thờ Lý Bát Đế cực đẹp, và kể chuyện là một số du khách Đại Hàn đã tới làm lễ tại Đền và đã xưng là hậu duệ xa xôi của tổ tiên người Việt ngày xưa, đã di cư sang Đại Hàn ước ngàn năm trước đây, khi vua Nhà Lý thoái vị để nhường ngôi cho Nhà Trần.
Kẻ viết mấy giòng này đã may mắn được sang thăm Đại Hàn khoảng ho+n ba chục năm trước đây. Lúc đó, kinh tế Đại Hàn hãy còn gắn với nông nghiệp. Một kế hoạch phát triển bắt đầu được thi hành, – nhưng vẫn còn trong thời kỳ phôi thai -, vì Đại Hàn thiếu mọi thứ nguyên liệu, và ngay nhiên liệu cũng phải nhập cảng.
Phải nhập cảng đủ thứ: nguyên liệu kỹ nghệ, nhiên liệu cần nhất là dầu hỏa. Lấy đâu ra nhiều vốn (tất nhiên phải bằng ngoại tệ mạnh) để đầu tư và nhập cảng các máy móc và trang bị cần thiết?
Khó khăn nguyên thủy thì rất nhiều, nhưng chỉ chừng ba chục năm cần cù, ngày nay xứ Đại Hàn đã tiến bộ cực mau. Liên Hiệp Quốc mỗi năm xuất bản rất nhiều tài liệu thống kê, trong đó thống kê kinh tế chiếm phần quan trọng. Các xứ hội viên được xếp hàng thứ tự theo lợi tức trung bình đồng niên của các xứ. Xin để ý rằng đó là lợi tức trung bình, tính bằng cách chia tổng số lợi tức quốc gia cho tổng số dân chúng. Lối tính đó mặc nhiên hàm ngụ một lối phân phối cực kỳ bình đẳng, mặc dù trong thực tế, không có xứ nào ngày nay lại bình đẳng tuyệt đối đến như thế.
Đứng đầu sổ là các xứ Âu Mỹ. Đứng chót sổ là các xứ nhiệt đới Phi Châu. Việt Nam gần áp chót, nghiã là dân Việt là một trong những dân nghèo khổ nhất thế giới.
Nhiều người Việt Hải Ngoại đã về du lịch VN và nhấn mạnh rằng tại các đô thị lớn, xe ho+i lộng lẫy nối đuôi nhau ngoài phố. Vậy sao lại bảo là VN nghèo? Nhận xét đó rất hay, nhưng xin nhớ là chúng ta đang nói chuyện về lợi tức trung bình, – nghiã là nếu có những người ăn cho+i xa xĩ (ai cũng biết phần đông là cán bộ) thì lại càng cực kỳ nhiều những người dân Việt đói rã họng (vì lợi tức đầu người trung bình của VN đã hết sức thấp rồi, – khoảng ba trăm mấy chục đô/năm – cộng thêm sự chênh lệch lợi tức cùng cực giữa kẻ có với người không).
Hãy trở lại Đại Hàn. Trong bảng xếp loại lợi tức trung bình, Đại Hàn ngày nay đã vượt xa nhiều xứ của người da trắng Âu Châu.
Đó là một điểm ta cần phải hết sức chú ý.
Vì trường hợp Đại Hàn chứng tỏ rõ ràng là chỉ cần khoảng ba chục năm phát triển là một dân tộc có thể vượt một đoạn đường xa để đến giai đoạn thịnh vượng và tự lực tự cường đối với thế giới. Mà ba chục năm thì có gì đáng kể đối với lịch sử dài dặc của cả một dân tộc?
Các thống kê thường tính mỗi thế hệ khoảng ba chục năm.
Vậy nếu một thế hê. VN biết cố gắng; biết hy sinh cho dân tộc; biết theo đúng đường lối tối hảo trong cuộc tranh đua sôi động của nhân loại; biết hạn chế lòng tự kỷ quá lớn của mình nếu hiện nay mình cầm quyền sinh sát đối với kẻ khác; biết theo ý nguyện của dân; và nhất là biết đặt quyền lợi chung của cả nước lên trên tham lam tự kỷ… Nếu biết như thế thì dân tộc VN đâu có đớn hèn hay đần độn ho+n dân tộc Đại Hàn?
Trong suốt khoảng thời gian 1953 đến 2002, Bắc Hàn và Nam Hàn không hề gây chiến tranh với nhau. Hai bên vẫn thi đua, nhưng không phải là thi đua vũ khí để tàn sát.
Bắc Hàn ráng áp dụng lý thuyết Mác Lê vì tin tưởng rằng đó là một chià khóa nhiệm màu đưa dân tộc đến chổ vinh quang.
Nam Hàn không Mác Lê, nhưng cũng không tìm cách phá phách Bắc Hàn. Trái lại Nam Hàn theo đường lối phát triển dân chủ tự do. Vấn đề đầu tiên là dân phải được ăn no mặc ấm thì mới bắt đầu thời kỳ tiến bộ, có năng suất cao được.
Vốn đầu tư ở đâu ra? Nào có khó gì? Tren bình diện chung, có ít nhất hai co+ quan tài chánh hỗ trợ bằng cách cho vay nhẹ lãi: đó là Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund). Nếu hai co+ quan đó tài trợ vẫn chưa đủ thì vay Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asian Development Bank).
Điều kiện chính là muốn vay nhiều vốn để đầu tư thì phải trình bày một kế hoạch đàng hoàng để chứng tỏ rằng chính phủ mình có đủ khả năng và đáng tin cậy. Các điều kiện đó đâu có gì là quá khó khăn?
Nếu một chính phủ chuyên môn đục khoét công qũy để ăn cắp về làm của riêng, – nếu một chính phủ chuyên môn đặt điều nói sai sự thực đối với dân cũng như đối với ngoại quốc, – nếu tiền vay tại các co+ quan nói trên đây lại mau chóng lọt vào túi riêng của các nhà cầm quyền bản xứ, – thì chớ quá vội tin là nhân viên các co+ quan tài trợ quốc tế toàn là một bọn ngây tho+ ngốc nghếch “mình nói sao nó tin vậy”, – vì ngay dân Việt mà mình cũng bịp dễ như cho+i, – nếu toàn một hạng như thế cả, thì xin thôi, đừng nói chi chuyện nước non xứ sở.
Trở lại Đại Hàn, ngày nay dân họ giàu có gấp 10 lần so với mức sống trước đây một thế hệ .
Tại sao họ tiến mau qúa vậy?
Điều kiện thứ nhất là không thù ghét và chém giết lẫn nhau.
Xét riêng về mặt phát triển kinh tế, sự thù ghét và chém giết lẫn nhau cực kỳ bất lợi vì nó phá tan mọi kế hoạch và kéo sự tập trung tư tưởng và ý chí của cán bộ vào việc sát hại người đồng hưo+ng.
Điều kiện thứ hai là phải có nhỡn quang bao quát toàn diện, nghiã là đặt đường tiến của dân tộc mình vào hướng tiến của toàn thể nhân loại, tránh những mưu đồ riêng tây, nó chỉ làm trở ngại bánh xe tiến hóa của lịch sử.
Điều kiện thứ ba là người cầm quyền phải tỏ ra là người có thiện chí và tận tâmvới chức vụ, lại đủ khả năng để trông rõ những bước nào phải đi. Có thế thì tư bản ngoại quốc mới tin cậy và bỏ vốn vào đầu tư. Đó là điểm tối cần để tiến tới giai đoạn gọi là phát triển tự lực tự cường (take-off into self-sustained growth).
Bắc Hàn và Nam Hàn lý tưởng chính trị khác nhau, nhưng không phải vì thế mà họ mở chiến tranh phá hoại và giết lẫn nhau. Bắc Hàn tôn thờ chủ nghiã Mác Lê, nhưng cũng không vì thế mà đốt phá và hũy hoại mọi kế hoạch phát triển của Nam Hàn.
Ta hãy trở lại danh từ Đại Hàn để chỉ nước Nam Hàn (South Korea). Trong lúc Đại Hàn đang tưng bừng thịnh vượng thì tại Bắc Hàn nạn đói và chết vì đói đang lan tràn. Tổng Thống Đại Hàn liền hội họp với Chủ Tịch Bắc Hàn để sửa soạn con đường thống nhất quốc gia, – nghiã là Miền Nam tự nguyện chia xẻ sự giàu có với các đồng bào Bắc Hàn Mác Lê đang đói khổ. Con đường thống nhất và thịnh vượng đang mở ra cho Bắc Hàn Cộng Sản: nhiều bước đang được tiến hành (thể thao, thăm viếng du lịch, con đường xe lửa thống nhất nối liền hai bán đảo, hội nghị hai bên v.v.)
Còn Việt Nam thì sao?
![]()
Vấn đề đẩy mạnh công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở quốc nội
GS VŨ QUỐC THÚC
Phát Ngôn Viên của HI�N CHƯƠNG 2000 tại Tây Âu đặc trách vận động trí thức Quốc Nội
Ghi chú của Diễn Đa`n Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN : GS Vũ Quốc Thúc là Trưởng Ban Tổ Chức Đại Hội Paris công bố HI�N CHƯƠNG 2000 ra thế giới, vào các ngày 25 và 26-11-2000. Với cương vị Trưởng Ban Tổ Chức Paris – địa phương đã đăng cai Đại Hội, GS Thúc đã là người nắm vững hơn ai hết nội dung, ý kiến, các điều bàn cải nội bộ của các phái đoàn tham dự Đại Hội, cũng như dư luận của truyền thông quốc tế và quần chúng đấu tranh. Có rất nhiều người từ các nơi xa xăm – không phải là thành viên các phái đoàn – đã đến với Đại Hội, từ Đức, Ý, Hòa Lan, Mỹ, Canada v.v. Sống ngay tại trung tâm Paris mà các luồng dư luận và tin tức từ Việt nam thường đến đây sớm nhất so với các lục địa khác, GS Thúc đã nghe ngóng, thẩm định, đánh giá về những gì Hiến Chương 2000 đã đem lại được cho công cuộc tranh đấu cho nền Dân Chủ Việt Nam trong suốt hai năm qua .
Sắp tới đây, nhân dịp kỷ niệm Đệ Nhị Chu Niên HI�N CHƯƠNG 2000 – công trình tập thể có giá trị như một tuyên ngôn của những người dân chủ Việt Nam đối với chế độ Cộng Sản và một mô hình cứu nước và dựng nước; GS VŨ QUỐC THÚC – Phát Ngôn Viên của HI�N CHƯƠNG 2000 tại Tây Âu đặc trách vận động trí thức Quốc Nội sẽ trình bày dưới đây đề tài “đẩy mạnh công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Quốc Nội”, một chủ đề quan trọng bậc nhất trong cuộc tranh đấu hiện nay.
GS VŨ QUỐC THÚC từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các chánh phủ Quốc Gia từ thập niên 50 đến 1975, như là Bộ Trưởng Giáo Dục thời Chính Phủ Bửu Lộc (1953-1954), Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia, Cố Vấn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Tái Thiết Hậu Chiến, và là đồng tác giả của các phúc trình nổi tiếng như Phúc Trình Staley – Vũ Quốc Thúc (1961), Phúc Trình Lilienthal – Vũ Quốc Thúc (1968) về kế hoạch tái thiết kinh tế hậu chiến VNCH, được nhà xuất bản danh tiếng Praeger, NY xuất bản (Lilienthal, D.E. & Vu, Quoc Thuc: The Postwar Development of the Republic of Vietnam: Policies and Programs, New York: Praeger, 1970).
Sang Pháp năm 1978, ngụ tại Nanterre, ông trở thành Giáo Sư Thực Thụ Đại Học Paris cho đến ngày nghĩ hưu vào năm 1988.
Óng góp phần quan trọng trong công trình thảo hoạch và chuyển ngữ HI�N CHƯƠNG 2000 và cùng với TS LÊ ĐÌNH THÔNG, trách nhiệm đăng cai Đại Hội Công Bố Hiến Chương 2000 tại Paris ngày 25-26 tháng 11 năm 2000.
* * *
Nhân dịp kỷ niệm đệ nhị chu niên Hiến Chương 2000 ta cần xét xem trong 2 năm vừa qua, công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở quốc nội đã diễn tiến ra sao , có đạt được kết quả gì không, đã gặp những trở lực nào và trong thời kỳ trước mắt nên làm gì để đẩy mạnh công cuộc tranh đấu.
1) Trước tháng 11 năm 2000 là thời điểm công bố Hiến Chương 2000 , ở quốc nội có nhiều cuộc vận động chống sưu cao thuế nặng cũng như những hành động sai trái của các cán bộ , nổi bật nhất là vụ Thái Bình và vụ Xuân Lộc . Ngay trong tháng 11 năm 2000 , cũng có những vụ tranh đấu đòi quyền tự do tôn giáo ở Trung và Nam Việt . Việc dân chúng Hà Nội và Sài Gòn tự động đón tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton một cách nồng nhiệt bất ngờ , cho thấy là Đảng Cộng Sản Việt Nam không còn nắm được nhân dân chặt chẽ như trước nữa . Trước tình trạng này , chúng tôi đã hy vọng rằng sự công bố Hiến Chương 2000 có thể gây nên một kích động tâm lý thuận lợi cho công cuộc đấu tranh dân chủ ở quốc nội . Nếu chỉ căn cứ trên những phản ứng có thể nhận thấy từ ngoài – vì làm sao ta có thể đi sâu vào nội tâm của người khác ?- thì kích động ấy đã không xẩy ra . Khỏi cần chứng minh , ai cũng biết là nhà cầm quyền cng sản kiểm soát mọi phương tiện truyền thông đại chúng như đài phát thanh , đài truyền hình , báo chí … Dĩ nhiên mọi tin tức và bình luận về Hiến Chương 2000 đều bị dấu kín : chỉ một số người có phương tiện liên lạc với cộng đồng người Việt hải ngoại mới biết rõ vụ này thôi , do đó quảng đại quần chúng và ngay cả giới thanh niên trí thức cũng không hay biết kịp thời . Tuy nhiên chính quyền không thể bịt mắt bưng tai những người có thế lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước : những người này đã biết rõ sự thật về Hiến Chương 2000 . Trong thâm tâm họ dần dần nổi lên ý thức trách nhiệm lịch sử cũng như khả năng ( của họ) để thay đổi chế độ hiện hành . Những sự việc xẩy ra trong hai năm vừa qua đã minh họa sự biến chuyển tâm lý này : khi một đảng viên lão thành , có nhiều công trạng với Đảng và Nhà nước như cựu Trung Tướng Trần Độ , bỗng dưng lên tiếng đòi dân chủ hóa chế độ , đó không phải là một sự ngẫu nhiên . Trần Độ nay đã qua đời nhưng một số nhân vật tên tuổi khác ( 21 người ) đồng chí hướng với ông ta như : cựu đại tá Phạm Quế Dương , học giả Trần Khuê , nhà văn Hoàng Tiến , học giả Hoàng Minh Chính , tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang , tiến sĩ Hà Sĩ Phu , nhà thơ Chu Thành , nhà văn Vũ Cao Quận , ký giả Nguyễn Vũ Bình v.v.. đã không ngần ngại công khai thành lập Nhóm Dân Chủ – một nhóm đối lập thực sự chứ không phải đối lập ” cuội ” như một số tổ chức chính trị khác do Đảng Cộng Sản ngụy tạo . Đồng thời , có những phần tử trẻ tuổi như luật sư Lê Chí Quang , 32 tuổi , can đảm cảnh giác nhà cầm quyền về hiểm họa Bắc thuộc , như Phạm Hồng Sơn , 34 tuổi , hăng hái dịch ra tiếng Việt một tài liệu của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ nhan đề : “Thế nào là dân chủ ?” Cả hai người đều biết trước là sẽ bị nhà cầm quyền làm khó dễ , nhưng họ đã không sợ . Những sự việc này đáng lẽ phải làm cho Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước tỉnh ngộ , thì trái lại chỉ khiến cho họ trở nên ngoan cố hơn nữa.
Hai nhân vật trên đã bị công an bắt giữ để điều tra vì những lý do mơ hồ như : âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa , phát tán tài liệu chống chính quyền , làm gián điệp cho Mỹ ( trường hợp Phạm Hồng Sơn ) . Ta cũng còn nhớ vụ án Linh mục Nguyễn Văn Lý trong đó cơ quan tư pháp đã dẫm nát cả những nguyên tắc sơ đẳng của một nền pháp lý chân chính . Cách xử sự của nhà cầm quyền gây cho ta ấn tượng nặng nề là họ bất chấp dư luận quốc tế cũng như quốc nội : chẳng hạn trong vụ lén lút phê chuẩn các bản hiệp định về biên giới đất liền giữa Trung Quốc và Việt Nam , về sự phân chia lãnh hải trong vịnh Bắc Việt . Sau khi vụ này bị tiết lộ thì đại diện chính quyền đã tìm cách biện minh , giải thích lúng túng , giấu đầu hở đuôi , rút cục chỉ làm trò cười cho các quan sát viên quốc tế. Đó là chưa kể những thủ đoạn tiểu sảo , gần như lưu manh , mà cơ quan công an địa phương đã áp dụng để ngăn chặn không cho ai tới thăm các hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ …
2) Nếu làm một bản kết toán tạm thời về kết quả của cuộc đấu tranh cho dân chủ ở quốc nội trong hai năm vừa qua , ta có thể vững lòng tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của dân chủ . Cần nhớ rằng chế độ dân chủ không phải chỉ là những hình thức , những thủ tục , những quy tắc do các chính trị gia mường tượng ra ; đó cũng không phải là một kiểu mẫu lý tưởng có thể du nhập nguyên vẹn từ quốc ngoại. Lịch sử các nước dân chủ cho ta thấy rằng , chế độ dân chủ là kết quả một cuộc tranh đấu lâu dài và kiên nhẫn của quảng đại quần chúng bị trị để giành lại những quyền do một người , một gia đình hay một thiểu số lãnh đạo đã tước đoạt của dân . Chính kinh nghiệm đấu tranh gian khổ này đã bồi dưỡng tinh thần dân chủ và tạo nên những thói quen , những cách nhìn , những cách xử sự … mà ta có thể gọi chung là truyền thống dân chủ . Khỏi cần chứng minh là dân ta chưa có những truyền thống dân chủ kiểu tây phương ấy : chính vì thế mà khi ta muốn cổ động mọi tầng lớp nhân dân vùng lên đòi hưởng quyền tự do công dân như ở các nước tây phương , ta vấp phải một trở lực lớn rộng , đó là sự thờ ơ của quảng đại quần chúng . Thông thường mỗi tầng lớp xã hội chỉ ý thức rõ ràng những quyền tự do cụ thể của mình mà thôi : chẳng hạn nông dân muốn được tự do canh tác và hưởng thụ hoa lợi do công khó nhọc của họ tạo ra , thương gia muốn được tự do mua bán , tự do chuyển dịch ; nhà văn nhà báo muốn được tự do viết lách , tự do xuất bản ; các tín đồ tôn giáo muốn được tự do tín ngưỡng , tự do lễ bái .
Y thức dân chủ kiểu tây phương thường chỉ tìm thấy ở những người chuyên làm chính trị , hành chính hay tư pháp . Một khi hầu hết những người này đều xuất thân từ những trường hay những lớp do Đảng Cộng Sản lập ra để đào tạo cán bộ phục vụ Đảng , thì làm sao có thể tìm thấy ý thức dân chủ kiểu tây phương ở những thành phần này ? Khi Hiến Chương 2000 được công bố, , chúng tôi chỉ dám mong mỏi rằng với những kỹ thuật và phương tiện truyền thông hiện đại, ta có thể tác động trên tâm lý của lớp người đương quyền , khiến cho họ dần dần bị thuyết phục , để trở thành những người dân chủ . Những kết quả thâu lượm được trong hai năm vừa qua , tuy khiêm tốn nhưng đáng coi là rất khích lệ . Hạt giống dân chủ đã nẩy mầm và rồi đây sẽ lan rộng ra khắp tầng lớp đương quyền ấy . Phản ứng ngoan cố tìm mọi cách trấn áp của nhà cầm quyền cộng sản trước cuộc vận động dân chủ ở quốc nội chứng tỏ rằng phong trào dân chủ đang lớn mạnh.
3) Những trở lực vừa phân tích có tính cách nội tại . Ta cần phải để ý tới một loại trở lực ngoại lai không nên coi thường : đó là những âm mưu và những luận điệu của ngoại bang hay ngoại nhân cố ý hay vô tình bảo vệ chế độ đảng trị hiện thời ở Việt Nam.
Trở lực thứ nhất là sự chống đối của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đối với xu hướng dân chủ hóa ở các nước trên bán đảo Đông Dương . Học giả Stephen Young đã đưa ra nhận định này trong một bài xã luận mới đây được phổ biến trên mạng lưới Internet ( China holds the key ) . Tại sao Trung Hoa lại có thái độ này ? Rất có thể là vì Bắc Kinh có tham vọng bành trướng bá quyền trên toàn vùng Đông Nam Á mà bán đảo Đông Dương nằm trên con đường Nam tiến của mình . Cũng rất có thể là Bắc Kinh chưa bỏ được mặc cảm lịch sử là các cường quốc Âu Mỹ luôn luôn muốn nắm được thị trường khổng lồ Trung Quốc . Dù sao Bắc Kinh cho rằng họ phải kiểm soát con đường chiến lược xâm nhập Trung Quốc từ miền Nam , tức là bán đảo Đông Dương ( ta nên nhớ lại các cuộc thám hiểm của Doudart de Lagrée và Jean Dupuis hồi hậu bán thế kỷ XIX ) . Để tự vệ , tất nhiên Bắc Kinh muốn rằng các nước Đông Dương phải có một chính quyền do họ kiểm soát hoặc ít nhất cũng phải thân họ . Trong tình trạng hiện thời , khỏi cần nói đó là một chính quyền cộng sản : Bắc Kinh chỉ cần nắm được đảng cộng sản địa phương là nắm được tất cả . Nếu các nước Đông Dương dân chủ hóa theo kiểu tây phương , chắc gì chính đảng lên cầm quyền sau một cuộc tổng tuyển cử trung thực sẽ thân Bắc Kinh như chính quyền cộng sản Việt Nam hiện thời ?
Trở lực thứ hai là chủ trương nông nổi của một số chính khách Hoa Kỳ theo đó chỉ cần tăng cường quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam : các luồng tư tưởng tự do , dân chủ của Hoa Kỳ sẽ xâm nhập đầu óc dân Việt . Đó là thuyết diễn biến hoà bình . Trong nhiều năm qua , có những lãnh tụ cộng sản Việt Nam đã coi đó như một hiểm họa khiến các chính khách Hoa Kỳ tưởng rằng đó là phương pháp hữu hiệu nhất để giải thể chế độ Cộng sản . Tôi không suy luận đơn giản như vậy . Căn cứ trên những gì đã xẩy ra ở Liên Xô cũ và Đông Âu , cũng như đang xẩy ra ở Việt Nam , tôi e rằng phương pháp diễn biến hòa bình chỉ đưa tới sự thành hình của một chế độ ” mafia ” , độc đoán không khác gì chế độ cộng sản mà lại còn tham nhũng hơn nữa . Chỉ nhân dân bị thiệt : các doanh gia và xí nghiệp ngoại quốc có thiệt gì đâu ? Mại bản cộng sản hay mại bản tư bản , tựu chung vẫn chỉ là mại bản !
Hai trở lực vừa phân tích có thể làm trì hoãn tiến trình dân chủ hóa ở nước ta . Chính vì thế mà tôi cho rằng những người Việt tha thiết với lý tưởng dân chủ cần phải kiếm cách khắc phục các khó khăn đó .
4) Nên làm gì trong giai đoạn trước mắt ? Ở cương vị người Việt hải ngoại ta khó làm gì hơn là cố gắng phổ biến rộng rãi những tư tưởng và kiến thức dân chủ để đồng bào quốc nội có một sự hiểu biết rõ ràng hơn về những cái hay của nền dân chủ kiểu tây phương . Tất nhiên ta cũng phải vạch rõ những khuyết điểm để đi tới nhận định là kiểu mẫu dân chủ tây phương hơn hẳn kiểu mẫu cộng sản . Thay vì dùng hết tâm trí để tố cáo những cái dở của chế độ cộng sản ( việc này vẫn nên làm ) ta cần đặt trọng tâm công tác trên sự giải thích các định chế và truyền thống dân chủ tây phương để người ta ưa chuộng nền dân chủ ấy.
Ở đây , tôi chỉ muốn nhắc lại một quy luật quen thuộc trong chính trị học :Một chế độ sụp đổ không phải vì bị tấn công mà chỉ vì không ai muốn bảo vệ nữa .
Paris tháng 10 năm 2002

Phản hồi gần đây