Đọc lại Trần Đức Thảo

Đặng Phùng Quân

     I

 
Năm 1991, Trần Ðức Thảo được phép trở lại Pháp sau bốn mươi năm rời khỏi đây về nước rồi mất tại Paris năm 1993. Từ lâu ông đã trở thành một personna non grata, song đối với thế giới triết học vào thời hiện tượng luận nở rộ, tên tuổi ông được nhắc đến trong nhiều sách ở những thập niên 50, 60 trở đi.

Trần Ðức Thảo được đào tạo hoàn toàn trong môi trường giáo dục thuộc địa Pháp (học lycée ở Hà Nội, rồi Louis-le-Grand và Henri-IV trước khi thi đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm đường Ulm (ENS d’Ulm)) nên những tác phẩm chính của ông viết bằng Pháp ngữ.
Hai tác phẩm chính của Trần Ðức Thảo đánh dấu hai giai đoạn: giai đoạn 1951 trở về trước, ông thuộc khuynh hướng chủ nghĩa Mác hiện tượng luận, và giai đoạn sau, ông là một người Mácxit Lêninit.

Hành trạng trí thức

Khi Trần Đức Thảo theo học trường Cao Ðẳng Sư phạm vào năm 1939 thì chủ nghĩa Mác và triết học Hegel đã có những ảnh hưởng lớn tại Pháp, không như Sartre nghĩ:

 

“Vào năm 1925 khi tôi mới hai mươi tuổi, không có một ghế giảng dạy chủ nghĩa Mác tại Ðại học, và những sinh viên cộng sản phải rất thận trọng, không được nói đến hay ngay cả nhắc đến tên trong những kỳ thi, nếu họ nói đến chủ nghĩa Mác, họ có thể bị đánh rớt. Nỗi kinh hãi về biện chứng ghê gớm đến nỗi Hegel thật xa lạ với chúng tôi” [1]

Thật ra trong thập niên 20, những nhà xã hội như Charles Andler, Lucien Herr, Victor Basch, Edmond Vermeil đã chiếm những ghế quan trọng ở Sorbonne, cũng như ở trường Cao đẳng Sư phạm và Học viện Pháp quốc. Họ đã đem tư tưởng Hegel vào Ðại học Pháp và đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ giữa tư tưởng Hegel và chủ nghĩa xã hội (một luận án đề xuất vào năm 1907 ở Sorbonne đã nghiên cứu ảnh hưởng của Hegel đối với Marx).

Vào những năm cuối thập kỷ 20 này, những nhà triết học trẻ như G. Politizer, Paul Nizan, Henri Lefebvre, G.Friedman quy tụ thành nhóm tạp chí Philosophies. Thế hệ mới của những nhà triết học Mácxit xuất hiện những tên tuổi như Auguste Cornu, René Maublanc, Roger Garaudy và George Cogniot.

Auguste Cornu đào sâu ảnh hưởng của Hegel đối với sự hình thành tư tưởng của Mác thời kỳ trẻ trong luận án đề xuất ở Sorbonne vào năm 1934. Tập khảo luận “A la lumière du Marxisme” do Henri Wallon chủ trương đã giới thiệu một khuôn mặt Mácxit sáng giá là René Maublanc trình bày mối quan hệ giữa Hegel và Marx. Maublanc đã giảng dạy triết tại Lycée Henri IV, nơi Trần Ðức Thảo theo học trước khi được nhận vào trường Cao Ðẳng Sư phạm. Một triết gia Mácxit trẻ khác là G. Politzer trong những bài giảng ở Ðại học Công nhân (Université Ouvrière) trong những năm 1932 – 1935 đã nhận ra phép biện chứng thuần lý trong triết học Hegel.

Những tác phẩm thời trẻ của Mác như Tập bản thảo kinh tế triết học và Hệ tư tưởng Ðức đã được phát hiện và dịch ra tiếng Pháp trong thời gian này. Ðồng thời tập Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và Bút ký triết học của Lenin cũng được dịch và lưu hành ở Pháp trong những năm 1928 và 1938, Chủ nghĩa Mác được tuyên truyền thông qua những phong trào công nhân, nhưng cũng xâm nhập đại học một cách rộng rãi.

Những trào lưu tư tưởng lớn có những bước thăng trầm trong lịch sử. Tư tưởng của Hegel đã xâm nhập đại học Pháp từ thế kỷ 19, cũng mang những dấu ấn khác nhau.

Alexandre Kojève nhận xét: “Mọi lý giải về Hegel chỉ là một đề cương của đấu tranh và lao động”.

Ðiều này có thể áp dụng cho mọi giai đoạn. Nhưng chính Kojève là một người đã làm sinh động tư tưởng Hegel trong những bài giảng ở trường Cao đẳng Sư phạm vào những năm 1936 – 1939. Kojève đã gây ảnh hưởng cho hơn một thế hệ kế tục đọc Hegel, Mác và tư tưởng hiện sinh Ðức.

Cũng trong khoảng thời gian này, một giảng viên khác ở trường Cao đẳng Sư phạm là J. Hyppolite đưa ra một lý giải khác về Hegel, công phu và tỉ mỉ.

Trần Ðức Thảo chắc hẳn đã được dẫn nhập vào con đường nghiên cứu Hegel và Mác qua những ảnh hưởng của Kojève, Hyppolite và Cavaillès.

Nhưng một khuôn mặt lừng danh khác có ảnh hưởng sâu sắc trong sự hình thành tư tưởng của Trần Ðức Thảo là M. Merleau-Ponty. Thời gian Trần Ðức Thảo theo học trường Cao đẳng Sư phạm thì Merleau-Ponty làm trợ giáo (caiman) ở đây. Trong số những học viên xuất sắc có Vuillemin và Trần Ðức Thảo.

Con đường nghiên cứu triết lý của Trần Ðức Thảo mang những chuyển biến tư tưởng như theo dấu ấn của Merleau-Ponty – từ bước đường nhập môn hiện tượng luận đến những nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ, sự tìm kiếm bản chất của cấu trúc ứng xử nơi con người.

Khi Sartre và Merleau-Ponty cùng một số những trí thức tả khuynh khác thành lập tạp chí Thời mới (Les Temps Modernes), với Merleau-Ponty làm giám đốc chính trị, đăng những bài viết chính trị xuất hiện dưới ngòi bút của Claude Lefort và Trần Ðức Thảo, hai môn đệ của Merleau-Ponty.

Ðối với thế hệ Trần Ðức Thảo theo học trường Cao đẳng Sư Phạm, khoa Hiện tượng luận của Husserl không còn xa lạ như một thập niên trước nữa. Cũng trong thời gian này, cuộc chiến bùng nổ và Ðức quốc xã đã tràn sang chiếm đóng nước Pháp, Trần Ðức Thảo được kể là một người có công mang những bản thảo di cảo của Husserl qua lằn tuyến kiểm soát của lính Ðức về Louvain, nhờ khuôn mặt Á đông của ông. Ðây cũng là cơ hội Trần Ðức Thảo được đọc những bản thảo chưa in của Husserl để sửa soạn cho luận án ông đang tiến hành.

Hiện tượng luận và chủ nghĩa Mác

Tác phẩm Phénoménologie et Matérialisme Dialectique của Trần Ðức Thảo xuất bản năm 1951 [2] là tập hợp hai phần nghiên cứu viết trong những thời điểm khác nhau:

Trần Ðức Thảo xác định phần thứ nhất soạn trong khoảng 1942 đến 1950 trình bày “căn bản cốt lõi của hiện tượng luận thuần túy trên phương diện lịch sử và trong chính những viễn tượng của tư tưởng Husserl” và ngay cả phần phê phán của tác giả cũng chỉ nêu ra những mâu thuẫn nội tại ngay trong tác phẩm của Husserl. Phần thứ hai của tác phẩm hoàn tất năm 1951 hoàn toàn đặt trên bình diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Trần Ðức Thảo là một trong những người tiền phong đã khai phá vấn đề quan hệ giữa hiện tượng luận và chủ nghĩa Mác. Trước Trần Ðức Thảo là Herbert Marcuse với Tham luận góp phần về một hiện tượng, luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử [3] .

Trong tiểu luận này, Marcuse phác họa một chương trình phê phán hiện tượng luận hiện sinh và chủ nghĩa Mác: Hiện tượng đi sâu vào cấu trúc căn bản của hiện hữu con người, khai phá đặc tính nền tảng và phổ biến còn chủ nghĩa duy vật lịch sử với nhận thức bản thể về cấu trúc của đời sống, nắm vững những biến thái lịch sử cụ thể. Ý đồ của Marcuse là xây dựng một “hiện tượng luận biện chứng” nhằm phân tích những khả năng cụ thể trong giới hạn của hoàn cảnh lịch sử thực, đi tới viễn tượng một thực tiễn cách mạng nhằm biến đổi nó trong chiều hướng nhân bản. Marcuse viết:

 

“Ðiều này là một sự mở rộng giá trị của hiện tượng luận biện chứng… nó chỉ ra hiện hữu của con người lịch sử, cả về mặt cấu trúc cơ bản lẫn những hình thái và dạng thức cụ thể.”

Lý giải chủ nghĩa Mác mở ra hai chiều hướng: những người Macxit như Lukacs, Marcuse, Habermas hay Sartre xây dựng trên sự chuyển biến của lịch sử con người, trong khi những người Mácxit – Lêninit thừa kế Engeln quan niệm vận động biện chứng trong tự nhiên và tác động vào lịch sử con người.

Vào năm 1946, Trần Ðức Thảo đưa ra một tiểu luận in trong Revue Internationale nhan đề “Chủ nghĩa Mác và hiện tượng luận” khởi thảo việc nghiên cứu đối chiếu và phê phán. Ðến tác phẩm xuất bản năm 1951, minh thị rõ rệt hơn với nhan đề “Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng”, Trần Ðức Thảo xác quyết: Chủ nghĩa Mác cho chúng ta giải pháp duy nhất có thể quan niệm được về những vấn đề mà chính hiện tượng luận đề ra [4] .

Chọn lựa con đường đi vào chủ nghĩa Mác không phải là một chọn lựa chính trị nhất thời, mà là một chọn lựa triết lý. Trần Ðức Thảo được huấn luyện trong trường Cao đẳng Sư Phạm, ở đó Cavaillès và Maurice de Gandillac đã đem hiện tượng luận và chủ nghĩa Mác vào giảng dạy. Một người ảnh hưởng đến Trần Ðức Thảo là Merleau-Ponty cũng đã đề cao chủ nghĩa Mác “không phải là một triết lý về lịch sử mà chính là triết học của lịch sử và phủ nhận nó chẳng khác nào đào huyệt chôn lý trí trong lịch sử” [5]

Mặt khác, Trần Ðức Thảo ở vào thế hệ những môn đệ hiện tượng luận phải thông qua con đường lý luận Hegel, qua sự dẫn nhập vào tác phẩm Hiện tượng luận về tinh thần của Kojève và Hyppolite. Trần Ðức Thảo đã viết một tiểu luận nghiên cưú nội dung thực của tác phẩm Hiện tượng luận về tinh thần in trên Les Temps Modernes năm 1948 [6] . Trần Ðức Thảo cho rằng nội dung của tư tưởng Hegel (bao gồm toàn thể lịch sử thế giới) chủ yếu bắt nguồn từ chủ nghĩa khách quan và sau cùng hàm ngụ một chủ nghĩa duy vật giấu mặt mà Hegel có thể khai triển khái niệm về chuyển biến và phương pháp biện chứng làm tiền đề cho tư tưởng Macxit. Tư tưởng cốt lõi của Hiện tượng luận về tinh thần là khái niệm Aufhebung như một quá trình vận động qua ba tác động: hủy diệt hình thái trực tiếp không thực và không phải chân lý của hiện tượng, để duy trì cái chân chính và thực nhất của nó để vươn lên hình thái trung thực nhất của hiện tượng.

Trong Phénoménologie et Matérialisme Dialectique (PMD), Trần Đức Thảo đã vận dụng khái niệm cơ bản này để giải thích tại sao “những phân tích hiện tượng luận cụ thể chỉ có thể vận dụng mọi ý nghĩa và được phát triển đầy đủ trong tầm chân trời duy vật biện chứng”. Không có gì mâu thuẫn trong việc quan niệm một “biện chứng hiện tượng luận” khi ông viện dẫn Husserl đã đặt trọng điểm triết lý trong hiện tượng luận sự vật (Ding):

 

“Sau cùng ở cơ sở của mọi thực tại khác, người ta thấy thực tại tự nhiên và cả hiện tượng luận về tự nhiên vật chất chắc chắn giữ một vị thế ưu tiên” [7]

Những công trình nghiên cứu của Husserl nhằm xây dựng “sự vật” nguyên uỷ theo Trần Đức Thảo “chỉ đem lại những kết quả quyết định trong việc giải trừ những tư kiến cổ điển, nhưng người ta hoài công tìm kiếm ở đó những minh xác về nội dung cụ thể của những trung gian hữu hiệu [8]

Phải có một phương pháp khách quan, tức phép biện chứng Macxít mới xác định được quá trình khả dĩ xây dựng những ý nghĩa sinh động trên nền tảng của thực tại vật chất. Phương pháp biện chứng như Trần Đức Thảo mô tả vẫn mang dấu ấn Hegel “khởi đi từ cái khả xúc tự vượt để hủy diệt trong cái khả tri”. Những vấn đề cổ điển chỉ được giải quyết toàn diện trong khuôn khổ của chủ nghĩa Mác, trong khi hiện tượng luận (Husserl) chỉ ra những khó khăn kỹ thuật mà ông không ngần ngại phê phán:

 

“Chủ nghĩa hiện thực trong Losgishe Untersuchungen của Husserl chỉ là một hình thái mâu thuẫn của một phân tích ý hướng không biết đến ý nghĩa thực của nó. Nó hàm ngụ yêu cầu của một sự đảo ngược biện chứng” [9]

Khởi từ một đoạn văn trong Nguồn gốc của hình học (Ursprung der Geometrie), Trần Ðức Thảo nhận định: con đường đi từ khả xúc đến khả tri chỉ có thể vạch ra một cách chính xác bằng sự phân tích những hình thái kỹ thuật và kinh tế của sự sản xuất (ra những điều kiện tồn tại của con người). Chính vì thế phương pháp hiện tượng luận vấp phải những khó khăn không thể vượt qua là sự mô tả những ý chỉ tiền trí từ (significations antéprédicatives) phải trở lại những điều kiện tồn tại của vật chất và thiết yếu định đặt chủ thể trong khuôn khổ của thực tại khách quan.

Hiện tượng luận có giá trị ở chỗ mô tả được cái sinh động (le vécu) làm nền tảng cho mọi ý nghĩa chân lý, nhưng quan điểm trừu tượng của nó đã không cho phép nhìn thấy nội dung vật chất của đời sống khả xúc, do đó tất cả cơ sở của sự cấu thành thế giới (Weltkonstitution) mang tính cách thường hằng triệt để.

Tóm lại, qua phê phán của Trần Đức Thảo, công trình hiện tượng luận là một vận động biện chứng có tính cách tư duy trong khi thực hành. Nó phải nhường bước cho chủ nghĩa duy vật biện chứng, coi như chân lý của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm [10] .

Khi phê phán chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu tư tưởng đang thống trị Tây Âu bấy giờ, Trần Ðức Thảo đã dùng hiện tượng luận làm trung gian để so sánh: Chủ nghĩa hiện sinh nêu ra sự khác biệt về yếu tính giữa sự tồn tại con người và thực tại tự nhiên chỉ trở lại bình diện ý thức ngây thơ; những khái niệm siêu việt, hoàn cảnh, chọn lựa, dự phóng của Heidegger được đề ra trước khi có giảm trừ hiện tượng luận, trong khi chủ nghĩa duy vật biện chứng xét những hình thái khác nhau của hữu thể trong vận động từ hình thái này qua hình thái khác. Vật chất được đặt ra trong ý thức chuyển biến (devernir-conscience), cũng như tự nhiên đặt ra trong sự chuyển biến về nhân tính, như vậy nó được xét dến sau khi có sự giảm trừ [11] .

Con đường Mácxit của Trần Đức Thảo có đáp ứng được những viễn tượng hứa hẹn như ông trình bày trong phần phê phán hiện tượng luận không?

Hấp thụ nền giáo dục triết lý của trường Cao đẳng Sư phạm ở giai đoạn này, Trần Đức Thảo vẫn chưa vượt ra khỏi quỹ đạo hiện tượng luận. Mặt khác thông qua ánh sáng lý luận của biện chứng Hegel, cơ sở tư tưởng của ông vẫn xây dựng trên khái niệm vận động biện chứng Aufhebung.

Trong PMD, Trần Đức Thảo không hề nhắc đến Lenin. Tuy nhiên cũng như nhiều người Mácxít Pháp khác, ông dựa vào Engeln. Cho nên ngay đề phần thứ hai, ông đã dẫn Engeln:

 

“Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà tinh thần là sản phẩm cao cấp của vật chất.”

Ở tiết 1, ông đã bàn về một vấn đề rất cổ điển là “Ý thức và vật chất” nhằm xác định lâp trường duy vật của ông:

 

“Chỉ có biện chứng duy vật mới cho phép chủ thể tự thức và tự khẳng định trong thực tại hữu hiệu về hiện thể của mình, như thể trước hết nó vượt khỏi ý thức của nó, để tuần tự đặt ra với chính nó như ý nghĩa chân lý của nó” [12] .

Tuy nhiên, ảnh hưởng của Merleau-Ponty khá rõ rệt trong những vấn đề đặt ra ở PMD. Cũng bắt đầu từ hiện tượng luận như là một phương pháp, sau khi qua những chặng đường mô tả kinh nghiệm tiền trí từ, Trần Đức Thảo rút ra kết luận là tất cả công trình cấu tạo thế giới (Weltkonstitution) nghiên cứu về thế giới khả xúc mang tất cả ý nghĩa về những cấu trúc của ứng xử, đã vấp phải những khó khăn không thể vượt qua. Chỉ có phương pháp biện chứng mới đưa ra những viễn tượng khả dĩ có thể nhận thức:

 

“Thực tại như thể biện chứng là một vận động mà trong mọi cách thế của hữu thể, những biến chuyển của trật tự nhân qủa được xác định bởi cấu trúc riêng của từng cách thế này tất yếu do chính sự phát triển nội dung của chúng phải dẫn tới sự cấu thành một cách thể mới, hội nhập cách thể trước và nắm giữ nó như thể hủy diệt, duy trì và vượt qua.” [13]

Cho nên nội hướng tính của ý thức cũng như quan hệ lý tưởng với khách thể phải đi dần tới cấu trúc của chủ thể thực sự, nghĩa là khởi từ chính thân xác như trung tâm của vận động. Như vậy không thể dùng phép “giảm trừ” trừu tượng của hiện tượng luận mà phải nhờ phép biện chứng để nắm vững thấu đáo biện chứng của ứng xử xác định hành vi của ý thức.

Chương thứ I của phần thứ hai tìm hiểu biện chứng của ứng xử sinh vật như thế biến chuyển của nhận thức đích xác về cái khả xúc.

Vấn đề này đã đề ra trong Hiện tượng luận về tinh thần của Hegel, tuy nhiên khi đi tìm hiểu khởi sinh của ý thức, biện chứng của khái niệm của Hegel đã thất bại so với phương pháp hiện tượng luận Husserl nắm vững sự đích xác trực tiếp của khách thể đơn giản đã được đề ra trong trực giác, chứng tỏ ưu thế của phương pháp trực giác này. Tuy nhiên những lý giải hiện sinh của những môn đệ Husserl đã loại bỏ nội dung vật chất của kinh nghiệm khả xúc, đưa hiện tượng luận tới chủ nghĩa phản lý toàn diện [14] .

Với tiêu đề “biện chứng của vận động thực”, Trần Đức Thảo khởi đi từ quan điểm duy vật biện chứng theo Engels trong việc tìm hiểu biện chứng của tự nhiên: sự tiến hóa của ứng xử sinh vật từ tri giác sự vật ở loài động vật có vú, đi ngược lên tiếp thu sự vật ở loài cá, ngược lên nữa là sự di động của loài sâu, sự rời chỗ ở loài động vật nguyên sinh (như loài động vật ruột khoang – Coelentérés) tương ứng với sự phát triển cá thể của trẻ sơ sinh.
Áp dụng hai khái niệm hiện tượng luận vào vận động sinh vật, Trần Đức Thảo nhận định ý hướng tính của trì động (rétention) như chuyển động dồn ép của hoạt động hút và đẩy trong quá trình hoàn tất phản xạ – những chuyển động dồn ép sống động trong một vận động lý tưởng của phóng động (protention), ở đó chủ thể có ý thức dự tưởng về tương lai nội tại qua một toàn bộ những hướng động vạch ra chân trời trường cảm xúc [15]

Trần Đức Thảo muốn chỉ ra sự sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa duy vật máy móc khi quan niệm tư tưởng chỉ là một sự bài tiết của bộ óc đã ngăn chặn bộ óc cảm thụ và không biết đến cấu trúc của vận động thực:

 

“Khi nhận thức được cái ý nghĩa của cái sinh động, tính hướng nội của ứng xử dưới dạng những sơ đồ dồn ép cấu tạo mối quan hệ ý hướng với khách thể đã đưa sinh thể lên hàng đời sống chủ thể,và sự giải thích khoa học không phải là một sự giảm trừ trừu tượng mà là khởi sinh tạo ra vận động kỳ thành của sự chuyển biến thành ý thức của thực tại vật chất” [16]

Khởi sinh những cấu trúc của ý thức có thể bắt đầu từ việc khảo sát nguồn gốc sinh vật của con ngưòi, xây dựng trên biện chứng chung của những cấu trúc chủng loại từ loài nguyên sinh đến con người, về mặt phát sinh cá thể: sự phát triển của trẻ sơ sinh một tháng tương ứng với sự phát triển của loài sâu, năm tháng với loài cá, chín tháng với loài động vật có vú, một năm với loài khỉ, mười tám tháng với loài giả nhân cho đến năm hai tuổi phát triển đầy đủ của loài sinh vật cao cấp là con người.

Quá trình nội hướng dưới dạng ứng xử phản xạ, phát triển từ cấp độ định hướng và di động được, cho đến khả năng nắm được vật bên ngòài là ý nghĩa của ngoại hướng tính. Sự thể hiện dục vọng là quá độ của tính trực tiếp của xúc động đến sự thường trực của tình cảm ở loài động vật có vú.

Ở loài khỉ, tương ứng với trẻ sơ sinh một tuổi, đã có khả năng trung gian xác định thực tại của ứng xử, tuy nhiên vẫn chưa có khả năng nội hướng của ý thức.

Sự phát triển hành vi của trung gian tạo ra việc biết sử dụng phương tiện (instrument) trong đó vận động xảy ra trước bị dồn ép và sống động của một vận động có ý hướng.
Ở giai đoạn kế tiếp khi con người biết sử dụng công cụ (outil) thì chức năng phương tiện không thuần túy chỉ thực hiện ở hoàn cảnh hiện tại mà có thể sản sinh, giữ gìn và duy trì; con người như vậy đã nhận thức được ý nghĩa của một phương tiện tự nó có hiệu quả. Sử dụng công cụ đánh dấu sự xuất hiện con người.

Vận động của lao động khi đã là lực lượng sản xuất được phản ảnh trong những hành vi của tổ chức và dạy dỗ chứng tỏ quá trình sản xuất trở thành đối tượng của một ý chí có ý thức dưới dạng nguyên ủy của ý chí tha nhân; từ giai đoạn này sự hợp tác lao động đánh dấu dạng thức của ngôn ngữ, tuy nhiên những qui luật xác định hoạt động sản xuất trước hết cấu thành ở bên ngoài ý thức, nghĩa là xuất hiện trong thực tại của ứng xử, như một hiệu quả khách quan của những điều kiện. Bắt chước một định thức nổi tiếng của Marx, Trần Đức Thảo viết: “Như vậy tự nguyên ủy không phải ý thức xác định ứng xử mà ứng xử sinh ra ý thức” [17]

Suy tưởng về thực tiễn của con người xây dựng chân lý của hình học trong một đoạn văn ở Ursprung der Geometrie của Husserl, Trần Đức Thảo đi tới kết luận là chỉ có sự phân tích những hình thái kỹ thuật và kinh tế của sản xuất ra những điều kiện tồn tại của con người mới minh giải được đời sống khả xúc của con người: “Sử dụng công cụ biểu thị sự tồn tại của con người”, cho nên trong chương II phần hai, ông đã khảo sát quá trình vận động thực của lịch sử con người theo một viễn tượng biện chứng như sau:

 

  1. Ở giai đoạn tối cổ, những lực lượng sản xuất cấu thành với vận động của công cụ chưa mang hình thái của cải vật chất, mà chỉ mới ở mức độ chiếm hữu những giá trị sử dụng, tương ứng với nguồn gốc của tôn giáo nguyên thủy xây dựng trên cơ sở vận động của vật hy sinh: 
    “Mọi tôn giáo được xây dựng trong một vận động tượng trưng ở đó chủ thể tự hủy diệt trong sự tồn tại tự nhiên của nó để nâng lên thành ý thức về “sự tồn tại thực sự” của nó. Trước khi là một dâng hiến cho thần thánh, vật hy sinh là sự chuyển biến của chính vật linh, qua đó cái thực được siêu việt trong khi tự hủy”. [18]

     

  2. Sau giai đoạn kinh tế săn bắn của nhân loại, khởi đầu của sự tích lũy của cải trong sản xuất của giai đoạn kinh tế gia đình, xuất hiện những tinh thần cá thể. Trao đổi hàng hóa không còn giới hạn trong những viễn tượng chật hẹp của giá trị sử dụng nữa mà được tổ chức theo giá trị trao đổi xác định một cách khách quan hình thái của một phổ biến tính thuần lý. Tuy nhiên nền kinh tế thương mại chỉ có lợi cho một giai tầng đặc biệt tách ra khỏi đám đông lao động để trở thành một giai cấp thống trị. Những cấu trúc thuần lý phát triển trong phương thức sản xuất mới này tha hóa trong hình thái truyền thống của bản chất thiêng liêng, tương ứng với một tôn giáo quan niệm đấng cứu thế hy sinh. Dưới hình thái chiếm hữu phát sinh những khái niệm thực tiễn mới, trong đó sự phát triển sản xuất không phù hợp với những quan hệ trao đổi và lịch sử qua những đối kháng trực tiếp này là vận động của những tranh đấu và thỏa hiệp giữa giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc. Cũng ở trong quan điểm này, lịch sử không còn là lịch sử của những giai cấp thống trị mà là lịch sử của lao động sản xuất và những quan hệ của con người. Trần Ðức Thảo dẫn lời Mác: 
    “Ở một giai đoạn nào đó của sự phát triển, những lực lượng sản xuất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện hữu. Từ những hình thái tiến hóa của những lực lượng sản xuất, những quan hệ này trở thành những chướng ngại của những lực lượng này, ở đó mở ra một kỷ nguyên cách mạng xã hội

    Và người ta không phán đoán một cá nhân trên ý tưởng tạo ra cho chính hắn, người ta cũng không phán đoán một thời đại trên ý thức tự thân của nó, mà ngược lại phải giải thích ý thức này bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột giữa những lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất hiện hữu”.

     

  3. Giai đoạn quá độ từ nền kinh tế buôn bán sang nền kinh tế tiền tệ, tiền là vận động của những trao đổi trở thành trung gian đưa tính phổ biến của hàng hóa trở thành sự tự trị của ý thức tự thân, như thể khái niệm trong hình dung khái niệm, đấu tranh giai cấp xuất hiện dưới một bộ diện triệt để mới: giai đoạn phong kiến mở đường cho cuộc cách mạng tư sản, sự tồn tại thần thánh mang hình thái tồn tại khả tri, biểu hiện cho sự siêu việt của tư tưởng và khái niệm phổ biến của Cứu chuộc biểu hiện tính phổ biến thực sự đắc thủ trong những quan hệ của con người qua sự bành trướng của kinh tế tiền tệ. Tuy nhiên, ý nghĩa chính thống của tính phổ biến nhân loại chỉ xuất hiện dưới hình thái hủy thể, sự chối bỏ huyền nhiệm những của cải trần gian bằng biểu tượng thuần túy của đời sống hằng cữu. 
  4. Sự tiến bộ chung của những lực lượng sản xuất đã đưa giai cấp tư sản phương Tây đi chinh phục thị trường thế giới, minh thị hình thái mới của chiếm hữu tư sản, trong đó quyền năng phổ biến của tiền không chỉ mang ý nghĩa thống nhất hàng hóa mà mang khả năng phát triển thuần lý (capacité du développement rationnel), dưới danh nghĩa tư sản phối hợp những thời khoảng khác nhau của quá trình sản xuất. Trong vận động như vậy, lao động sản xuất trở thành bản chất của giá trị, cấu thành phố biến xây dựng sự thống nhất những mặt khác biệt trong biện chứng trao đổi.

Quá trình lao động này tách rời khỏi thực tại kỳ thành của nó để giản lược vào một tất yếu toán học thuần túy, tước bỏ mọi ý nghĩa nhân tính. Ở đó khoa học hiện đại về tự nhiên phát triển trong chân trời máy móc này.

Cũng như Husserl đã chỉ ra khi xét đến ý nghĩa công chính của tư tưởng khoa học, cơ sở chân lý chỉ có thể tìm thấy trong lao động xã hội của con người, cho nên vận động lý tưởng của những khái niệm trong khoa vật lý toán học chỉ là biểu hiện trừu tượng của vận động thực của công nghiệp, như thể sự hài hòa thể hiện một cách thực tiễn giữa trí năng và sự vật.

Như Marx đã chỉ ra trong tập hai Tư bản, lao động này mất khả năng nhân tính trong sự chiếm hữu của tư bản và quyền năng trừu tượng che phủ biện chứng cũng như chân lý khoa học mang bộ mặt nghịch lý của một hủy thể đời sống sinh động. Ở đó giai cấp tư sản mới dùng ma thuật biến quyền năng sáng tạo của lao động con người thành một thứ hàng hóa đơn giản, như thể vật chất thuần túy, bị khai thác trong hạch toán kinh tế và khi sức lực lao động mà công nhân đem bán cho nhà tư bản, cuộc đấu tranh chống lại những quan hệ pháp định từ thống trị sang nô lệ khái quát hóa cơ cấu của hạch toán kinh tế trong quan niệm của một thế giới bị tước đoạt ý nghĩa.

Ðể nắm quyền bính chính trị, giai cấp tư sản đã đưa cơ chế tư bản vào khái niệm của khách thể như vật chất thuần túy, Kant đặt vấn đề những điều kiện khả hữu của một đối tượng như vậy, nghĩa là sự bảo đảm pháp lý của chiếm hữu tư sản.

Sự khác biệt giữa biện chứng Hegel và biện chứng duy vật ở chỗ đó: biện chứng Hegel biểu trưng một thỏa hiệp phổ biến giữa những giai tầng bóc lột cũ với giai cấp tư sản, trong khi biện chứng của lịch sử thực phát hiện trong sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và đại công nghiệp một cấu trúc mới của hoạt động sản xuất, hàm ngụ sự hoàn tất tổ chức kinh tế thành một sự hợp nhất toàn diện. Giai cấp vô sản chứng thực trong những điều kiện như vậy là chính chân lý của hiện hữu, mang một hình thái hoàn toàn mới, hàm ngụ sự triệt hủy thực hữu hiệu, do sự triệt hủy hình thái chiếm cứ tư hữu. Trong sự xây dựng chủ nghĩa xã hội và bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, rốt cuộc hoàn thiện sự cấu kết hài hòa phổ biến, là giấc mơ của tư tưởng tư sản trong biện chứng duy tâm với những hình thái bóc lột và giai cấp vô sản đã thực hiện trong lãnh vực thực sự tổ chức lao động xã hội, ở đó mọi cấu trúc giai cấp và nguyên cớ độc quyền bị thủ tiêu.

 


[1]Sartre, Question de méthode (collection Idées, tr.26).
[2]Editions Minh Tân, Paris 1951.
[3]Marcuse, Beitrage zu einer Phanomenologie des historischen Materialismus, Philosophische Hefte, Berlin 1928
[4]sđd, tr.5
[5]Merleau-Ponty, Humanisme et Terreur (bản tiếng Anh, tr. 153)
[6]La phénoménologie de l’esprit et son contenu réel, Les Temps Modernes số 3, tr. 492 – 539
[7]Husserl, Ideen I, tr.139 dẫn trong PMD tr.8
[8]PMD tr. 296 – 7
[9]sđd, tr. 51
[10]sđd, tr.228
[11]sđd, tr.227
[12]sđd, tr. 247
[13]sđd, tr. 242
[14]sđd, tr. 238
[15]sđd, tr. 256 và 262
[16]sđd, tr. 266
[17]sđd, tr. 286
[18]sđd, tr. 306

 

II

Cấu trúc luận và chủ nghĩa Mác

Quan hệ giữa ý thức và ngôn ngữ đã trở thành vấn đề cơ bản trong hành trạng tư tưởng của Trần Đức Thảo. Ngay từ PMD, khi đi giải thích sự xuất hiện của ý thức qua những giai đoạn sơ khai của con người, ông ghi nhận từ tiếng hú của loài vật qua ngôn ngữ con người đã phối hợp trên cấu trúc của lao động sản xuất.

Thật sự Trần Đức Thảo vẫn chịu ảnh hưởng sâu đậm của hiện tượng luận. Sau Husserl, Merleau-Ponty đã đặt trọng tâm vào ngôn ngữ, khởi từ bài giảng “La conscience et l’acquisition du langage” năm 1949, ở đó ông chỉ ra sự khác biệt giữa truyền thống triết học Descartes và triết học hiện đại chung quanh vấn đề ý thức và ngôn ngữ: trong truyền thống Descartes không có sự gặp gỡ giữa ý thức và ngôn ngữ trên cùng một bình diện, nói khác đi triết lý coi ngôn ngữ như một sự vật ở ngoài ý thức. Merleau-Ponty đưa ra một đề cương tìm hiểu bản thể ngôn ngữ, bao gồm việc nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ con, sự đóng góp của khoa ngữ học và những kinh nghiệm văn chương. Khi đi tra hỏi ngôn ngữ, ông đã phát hiện ra ngữ học có thể là một điển hình nguyên lý làm cơ sở cho việc phát triển một luận lý về những khoa học nhân văn, từ đó có thể thiết lập một khoa nhân loại học triết lý, phổ biến.

Ðó cũng là khởi đầu cấu trúc luận và người ta đọc lại nguồn gốc ngôn ngữ của Rousseau, Herder và Saussure.

Những tiểu luận mới của Trần Đức Thảo xuất hiện trên tạp chí cộng sản Pháp La Pensée vào năm 1966 sau nhiều năm im lặng đặt trọng tâm nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ mang chiều hướng này. Trong khoảng thời gian vắng tiếng, ông đã có cơ hội học tiếng Nga để đọc những tư liệu dân tộc học và khảo cổ học của các nhà khoa học Liên Xô.

Những công trình nghiên cứu của ông được phép xuất hiện ở ngoài nuớc có thể giải thích được hai lý do: phù hợp với sự phát động cuộc chiến tâm lý tuyên truyền ra thế giới của đảng cộng sản Việt Nam và Trần Đức Thảo đã trở thành một người Mácxit-Lêninit chính thống.

Những tiểu luận này đựơc in lại trong tác phẩm “Nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức” xuất bản năm 1973 [1] . Trần Đức Thảo đã dẫn chứng Lenin và hoàn toàn dựa trên những lý luận kinh điển “ngôn ngữ là ý thức thực”, mà “ý thức trước hết là một sản phẩm xã hội” (Mác) phát triển trong sinh hoạt và những quan hệ vật chất mà “vật chất là một thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức của chúng ta”. (Lenin)

Ði tìm nguồn gốc của ý thức, trước hết ông tránh rơi vào một nghịch lý quan niệm ý thức là vật chất vì như vậy lẫn lộn giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật vì người ta có thể đảo ngược lại quan niệm vật chất là ý thức.

Ý thức ở lúc khởi đầu của nhân loại có thể đánh dấu từ sự xuất hiện của công cụ đầu tiên. Hoạt động của con người chính là một hình thái sơ đẳng của ý thức. Những điều tra nhân loại học Mácxit xác định khởi đầu của ý thức phải xét từ giai đoạn trung gian trước khi con người tối cổ xuất hiện. Ðó là giai đoạn trước khi có con người, loài vượn đã vượt lên khỏi tính cảm thụ để có tập quán lao động thích nghi. Ý thức như vậy được nghiên cứu trong “thực tại trực tiếp” của nó: ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ diễn đạt bằng cử chỉ và ngôn ngữ diễn đạt bằng lời.

Nguồn gốc ngôn ngữ được cấu thành trên sự vận động của lao động thích nghi ngay từ cấp độ vượn người. Trần Đức Thảo dẫn lời Engels: “Trước tiên là lao động rồi sau đó và đồng thời ngôn ngữ. Ðó là hai động lực chủ yếu tác động bộ óc của loài vượn dần dà biến thành bộ óc của con người.”

Lịch sử đã chứng tỏ là trí khôn loài vật chưa đạt tới mức độ ý thức, vì ở loàì vật thiếu quan hệ ý thức với sự vật như ngôn ngữ có thể diễn đạt. Và dấu hiệu ngôn ngữ sơ đẳng nhất là động tác của dấu chỉ diễn đạt mọi quan hệ với sự vật bên ngoài, ở đó ý hướng tính cơ bản của ý thức là ý thức về sự vật, khác vơí cơ chế tâm linh thuần túy cảm xúc máy móc nơi loài vật. Khi mô tả những hoạt động sơ đẳng, động tác của dấu chỉ là một cách gọi lao động trên đối tượng được chỉ. Ý chí trước hết phải được cấu thành dưới một dạng khách quan trong vận động nguyên ủy của ngôn ngữ khi vận động này đột phát những quan hệ vật chất của đời sống xã hội, điều Mác gọi là ngôn ngữ của đời sống thực:

 

“Sản xuất những ý tưởng biểu hiện và ý thức trước hết một cách trực tiếp và riêng biệt lẫn vào các hoạt động vật chất và giao dịch vật chất của con người, nó chính là ngôn ngữ của đời sống thực. Những biểu tượng, tư tưởng, giao dịch trí thức của con người xuất hiện ở đây như” khởi sinh trực tiếp của ứng xử vật chất (direkter Ausfluss ihres materiellen Verhaltens) nơi con người” [2]

Ðến đây Trần Đức Thảo muốn chỉ ra hướng nghiên cứu qua lối đặt vấn đề khởi từ một ý nghĩa tuyệt đối tự căn cơ ở trong ngôn ngữ của đời sống có thực có trước mọi ý thức nói chung, và chỉ từ khi có chủ thể hoá mới xác định ra ý thức nguyên ủỵ. Trong mọi bước tỉ mỉ mô tả những động tác dấu chỉ của con người nguyên thủy, ý nghĩa này được giả định ở mọi giai đoạn tiếp theo như những điều kiện tiên quyết của thao tác ngôn ngữ hay tư tưởng.

Hướng nghiên cứu này hoàn toàn theo quan điểm duy vật vì ý nghĩa của dấu chỉ liên hệ một cách trực tiếp và duy nhất tới chính sự vật trong hiện hữu ngoại tại, coi như độc lập với chủ thể, hay nói một cách khác, sự vật trong hiện hữu vật chất. Chính khởi từ hình thái khách quan của dấu chỉ đã đắc thủ mới có hình thái chủ quan xác định mối quan hệ đầu tiên có ý hướng của chủ thể đối với khách thể. Cho nên Mác xác định ý thức không có gì khác hơn cái hữu thể có ý thức (das bewusste Sein). Có thể nói, ngôn ngữ là chính ý thức trong thực tại trực tiếp của nó, thì ý thức là ngôn ngữ mà chủ thể nói với chính mình, nói chung dưới dạng “ngôn ngữ bên trong”.

Vận động vật chất hàm ngụ trong ý thức là chính ngôn ngữ, nói khác đi tín hiệu ngữ học là vận động vật chất của hành vi chỉ thị. Trong Grundrisse, Mác quan niệm ngôn ngữ là hiện thể của cộng đồng, nên mối quan hệ giữa cá thể và ngôn ngữ chỉ xác định khi cá thể là một thành viên tự nhiên của cộng đồng con người. Trong phần nghiên cứu thứ hai của tác phẩm Recherches sur l’origine du langage et de la conscience (ROLC), dưới nhan đề: ngôn ngữ hỗn tạp (Le langage syncrétique), Trần Đức Thảo mở đầu từ một khái niệm của Jakobson: “Ý nghĩa của một tín hiệu là một tín hiệu khác, nhờ đó tín hiệu mới được thông diễn” và phê phán: Nếu tất cả ý nghĩa của những tín hiệu là đi từ tín hiệu này qua tín hiệu khác, chứ không bao giờ liên hệ trực tiếp với sự vật thì như vậy, một cách thực tiễn, chúng ta bị vây kín trong thế giới những tín hiệu và không thể thấy được sự vật muốn nói gì. Ðó là một sai lầm nghiêm trọng vì ngay trên bình diện phân tích những tín hiệu, không thể chối bỏ sự hiện hữu của một tín hiệu cơ bản, mà ý nghĩa rõ ràng xác minh “một liên hệ trực tiếp giữa từ ngữ và sự vật”: đó là tác động của dấu chỉ (le geste de l’indication), ở đó chúng ta chỉ ngón tay trên chính sự vật. Khi Lenin định nghĩa cảm giác là dây liên lạc trực tiếp của ý thức với ngoại giới, ông muốn chỉ ra rằng khái niệm vật chất đối với con người là vấn đề tín nhiệm vào những dấu chỉ (pokasaniiam) của những giác quan, vấn đề và những nguồn gốc của nhận thức nơi con người [3] . Toàn bộ những nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức khởi đi từ vấn đề vận động của dấu chỉ.

Dựa vào quan điểm duy vật, ông xác động tín hiệu của tín chỉ phát triển theo sự vật trong vận động của nó. Lý luận phản ánh bắt nguồn từ Mác, quan niệm “vận động của tư duy chỉ là phản ánh của vận động thực được vận chuyển vào trong bộ óc của con người.” Khi đi tìm hình thái nguyên ủy của ý thức thông qua quá trình tiến hóa từ loài vượn lên loài người, rồi từ loài vượn người qua loài người khéo léo (homo habilis), chúng ta thấy hàm mặt đã thanh tú hơn và bộ óc tăng trưởng chứng tỏ sự phát triển đầu tiên của ngôn ngữ và ý thức. Dựa vào khả năng của giác quan, Trần Ðức Thảo nhận xét: Ý thức xuất hiện ở khởi đầu của sự phát triển nơi loài vượn bằng chủ quan hoá tín hiệu của dấu chỉ dưới dạng thái xác thực khả xúc của thực tại khách quan của sự vật được tri giác [4] .

Từ quan điểm của Engels: “Cũng như lịch sử tiến hóa của thai nhi trong bụng mẹ chỉ biểu hiện một sự lặp lại thu gọn lịch sử hàng triệu năm tiến hoá thể chất của tổ tiên động vật của chúng ta, bắt đầu từ loài loài sâu, sự tiến hoá trí khôn của trẻ con cũng là một sự lập lại thâu tập sự tiến hoá trí khôn của những tổ tiên này, ít ra là những tổ tiên gần dạng người” [5] toàn bộ đề cương nghiên cứu trong PMD tìm hiểu khởi sinh những cấu trúc của ý thức từ khảo sát nguồn gốc sinh vật của con người về mặt phát triển cá thể và chủng loại đối chiếu sự phát triển nơi trẻ sơ sinh với sự phát triển cơ xúc từ loài sâu đến loài vượn đến ROLC hướng đi vẫn không thay đổi.

Những tư liệu tâm lý học về trẻ em trong ROLC phần lớn dựa trên công trình của những nhà tâm lý học Liên Xô như Gvosdev, Konnikova và nhất là Piaget (người Thụy Sĩ, rất gần với quan điểm Mác-xít, như Goldman nhận định), còn những tư liệu nhân loại học trong ROLC dự trên những công trình của Iakimov, Spirkine, Kotchetkova nhằm mô tả vận động biện chứng của những dấu chỉ phát triển ở các loài vượn người và trẻ em, khởi thủy của ngôn ngữ và ý thức.

Vận động của dấu chỉ về mặt duy vật biện chứng khởi sinh từ lao động tập thể thích nghi được phát triển từ trình độ vượn người. Quá trình tiến hóa từ vượn người lên loài người đánh dấu từ khi đứng và đi thẳng bằng hai chân, giải phóng bàn tay để có thể tập thói quen biết sử dụng phương tiện . Một sự phát triển như vậy giả định tín hiệu của dấu chỉ trong hình thái sơ đẳng nhất sử dụng phương tiện tập thể, đồng thời cũng đắc thủ được trong tổ chức thần kinh, giải phóng bộ óc qua những hoạt động cao cấp: ngôn ngữ và ý thức, vượt khỏi những hạn chế của hoàn cảnh. Từ phương tiện tự nhiên, đến sửa soạn phương tiện như biết mài cạnh đá cuội, phát triển phương tiện (ở giai đoạn Kafouen và Olduvai), cho dến khi thực sự tạo ra công cụ là quả là một quá trình từ con người được thành hình (tác nhân sản xuất ra phương tiện) cho đến khi con người hoàn tất (tác nhân sản xuất ra công cụ).

Khi đi phân tích tín hiệu của dấu chỉ phát triển, nơi loài người sơ khai sống thành đoàn nhóm săn bắt mồi, lấy hình ảnh người săn thấy con mồi ở phía xa và chỉ cho những nguời khác bằng một cử chỉ của bàn tay dang ra về phía trước, nơi trẻ sơ sinh 14 tháng biết ra tín hiệu bằng cử chỉ, Trần Ðức Thảo diễn tả ý chí của động tác dựa trên một ảnh tượng được phát biểu “cái này trong một vận động trong hình thái chỉ cách xa “bằng công thức CME, phát biểu một cách chung là “cái này trong một vận động trong hình thái” bằng công thức CMF, gọi là công thức của dấu chỉ phát triển bao gồm một số những khả năng tiến hóa để có thể hiểu tính đa nghĩa của tiếng dựa trên cử chỉ [6] , phân tích cho đến tận cùng, đó là toàn bộ vận động diễn đạt bằng cử chỉ, sơ bộ hay hoàn tất, tạo thành ý nghĩa của tiếng.

Nhận thức được tín hiệu của dấu chỉ phát triển chỉ có được khi chủ thể có thể nói với chính nó : Khi tín hiệu được dội trở lại chính nó nơi trẻ con dưới hình thức chơi đùa, trên thực tế là những điều kiện nguyên thủy trong thực tiễn lao động tập thể. Lao động vượn người đã trao đổi lẫn nhau cùng dấu chỉ phát triển về một đối tượng của hình thái CMF. Trong thí dụ nêu trên, khi những người săn trong nhóm trao đôåi dâáu chỉ này, nghĩa là trao đổii với nhau và với chính mình khi đồng nhất với tiếng gọi của người tiền phong, tín hiệu mới mang chính ảnh tượng nhờ đó những người săn gọi nhau theo bắt con mồi, vận động của một nhận biết như vậy tạo hình thái của cải sinh động đó như là hành vi mang ý nghĩa vật chất gọi là ý thức [7] .

Những phân tích cụ thể về biểu tượng cho thấy ý thức chân chính của sự vượt qua khi minh giải nội dung thực kỳ thành của nó, tức là cái nội dung xã hội, chứng tỏ sự hiện diện thực cùng khắp của lao động tập thể, sinh ra sự hiện diện cùng khắp lý tưởng của ý thức. Sự phát triển qua lao động tập thể do sự phát triển ra phương tiện tiến đến sự phát triển phân bố công tác trong khuôn khổ thông tin mở rộng là một bước tiến bộ trong cấu trúc ngôn ngữ. Mâu thuẫn khách quan giữa những quan hệ mới trong lao động tập thể do sự phát triển những lực lượng phương tiện và hình thái đắc thủ của ngôn ngữ tạo cho một cấu trúc ngữ học mới phát sinh. Quan hệ song hành cơ bản của cử chỉ và tiếng tạo ra nhóm từ có tính chức năng là một bước tiến bộ nhất định trong sự tiến bộ của nhận thức. Nhóm từ về mặt chức năng xuất hiện vào cuối giai đoạn hai của loài vượn người đánh dấu hình thái ngữ học mới cho đoàn nhóm tương ứng với nhận thức của tập thể.

Ở buổi đầu, ngôn ngữ của loài vượn người cũng như nơi trẻ sơ sinh còn là thứ ngôn ngữ hỗn tạp. Vượt qua giai đoạn ngôn ngữ hỗn tạp, vươn lên khỏi hình thái và sự khai sinh ra từ biểu tượng phân biệt của hình thái. Từ có một vị thế nhất định, không còn là thứ tiếng hỗn tạp nữa. Do ước lệ xã hội, tương ứng với kinh nghiệm về nhiều mặt đối tượng vượt khỏi những khả năng trực tiếp của sự phát triển của hoàn cảnh hiện tại. Dấu chỉ của đối tượng ở đây tương ứng với lối gọi tên điển hình đánh dấu một bước mới nhất định trong sự tiến bộ của nhận thức. Cấu tạo điển hình này đánh dấu một bước đầu của lao động sản xuất nơi người khéo léo (Homo habilis).

Sau giai đoạn ngôn ngữ hỗn tạp, nhóm từ được hình thành, có nghĩa là sự biện biệt hóa chủ từ kéo theo sự xuất hiện những câu được phát biểu đúng nghĩa với những quan hệ giữa chủ từ và động từ. Ðộng từ chỉ xuất hiện sau cùng, tiếp nối túc từ ở trẻ con đã được 23 tháng (nơi quá trình lịch sử con người sau thời đại Prehominien) [8] . Trong Tiết III của phần hai nghiên cứu về ngôn ngữ hỗn tạp, dưới tiểu đề “tổ biện chứng nhận thức” (l’alvéole de la dialectique de la connaissance), Trần Ðức Thảo muốn chỉ ra rằng từ quá trình tìm hiểu ý nghĩa hỗn tạp của dấu chỉ đã cho thấy những mầm mống của mỗi thành tố biện chứng của nhận thức như một tái sản xuất lý tưởng cải biến chung của sự vật. Những mâu thuẫn của biến chứng sự vật ở trạng thái tiềm ẩn đã tuần tự xuất hiện trong sự phát triển của thực tiễn xã hội, tạo thành những hình thái mới của ngôn ngữ và ý thức, ở đó cấu trúc ngữ nghĩa nguyên ủy làm cho những tác động ngữ học được phong phú lên dựa trên mô hình của sinh hoạt vật chất và những tương giao vật chất giữa những người lao động, và khi diễn đạt tượng trưng bằng lời đã tạo thành một hình ảnh càng lớn và rõ hơn về ngoại giới. Ở vào kỷ thứ ba và thứ tư, tín hiệu của dấu chỉ phát triển tương ứng với sự phát triển của lao động thích nghi đơn giản, nghĩa là biết sử dụng phương tiện tự nhiên và phương tiện được sửa soạn trở thành ứng xử bình thường nhờ ở bàn tay được giải phóng. Sự nhảy vọt từ phát triển về lượng sang phát triển về chất với sự trao đổi những thông tin trong đoàn nhóm, trong sự hợp tác lao động tập thể khi đã có dấu chỉ biểu tượng về “cái này”‘ vắng mặt, khi đã vượt qua được mâu thuẫn giữa đối tượng và vận động trong hình thái sơ đẳng nhất, nghĩa là khi đối tượng biến khỏi trường tri giác hiện tại. Bước tiến bộ về chất này trong sự phát triển của ngôn ngữ và ý thức lần đầu tiên đã cho phép chủ thể vượt qua một cách lý tưởng những hạn chế chật hẹp của dữ kiên hiện tại, chính là giải phóng được bộ óc. Ở giai đoạn Kafouen (thời đầu kỷ Pleistocene thứ cấp) con người biết sửa soạn phương tiện bằng sự điều động trực tiếp chất liệu với sự phát triển lao động nhờ một phương tiện thứ hai (dùng hai hòn cuội, một là đối tượng lao động, một là phương tiện lao động). Sử dụng phương tiện phát triển làm cho đoàn nhóm phân biệt thành những đôi đắc thủ, tạo cho lao động thành hình thái lao động thích nghi phức tạp. Những mâu thuẫn mới lại xuất hiện ở trình độ hoạt động và những tương giao vật chất giữa những người lao động, được phản ánh trong ngôn ngữ bằng một loạt những ngộ nhận, như khi một tiếng được dùng để chỉ vận động của một đối tượng nhất định nơi người này đối với người nghe lại biểu tượng vận động này trên một đối tượng khác. Mâu thuẫn ấy chỉ được giải đáp trong hình thành nhóm từ có chức năng sơ đẵng. Với một cấu trúc mới của ngôn ngữ và ý thức lao động triển khai dựa trên một ảnh tượng điển hình lý tưởng của hình thái phương tiện mang một cách thế chung cho mỗi người lao động. Tác động ngữ học mới chỉ định hình thái của hành vi lao động, mà nhận thức làm xuất hiện kỹ thuật sản xuất, ở đó sự thực hiện chính xác ảnh tượng điển hình của hình thái phương tiện được đảm bảo trong sự xác định có ý thức về những vận động của sự điều động chất liệu, như Mác nhận định:

 

“Con vật chỉ là một với hoạt động sống. Nó không tách rời mà chính là hoạt động sống này. Con người làm cho hoạt động sống thành đối tượng của ý chí và ý thức của con người. Con người có một hoạt động sống có ý thức. Ðó không phải là một xác định đơn giản mà con người nhập vào một cách trực tiếp. Hoạt động sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sống thú vật. Con người một cách minh thị ở đó hiện hữu như một chủng loại” [9]

Chính qua đắc thủ và nhận thức được tín hiệu dấu chỉ của hình thái vận động trên đối tượng mà hoạt động sống có ý thức là một lao động sản xuất. Khi lao động đã hoàn toàn thuộc về con người, đó là lúc loài người Homo xuất hiện. Tuy vậy sự sản xuất vào thời kỳ này vẫn còn ấu trĩ vì hạn chế trong phần hữu dụng của phương tiện. Khi con người sản xuất ra công cụ, nghĩa là chế tạo toàn bộ chất liệu theo một hình thái điển hình toàn diện, phác họa từ trong đầu một kế hoạch hoạt động, đó là lúc người lao động có thể chỉ định cho chính mình một loạt những khai triển hình thái điển hình nhất định, ngôn ngữ đã có sự phân biệt động từ. Từ sản xuất ra phương tiện ở vào lúc nhân loại ví như một thai nhi ở giai đoạn cuối hình thành, cho nên Engels gọi là con người đang hình thành (der werdende Mensch), sang đến giai đoạn sản xuất ra công cụ, hàm ngụ sự cấu thành nhóm từ trong ngôn ngữ thực hiện đồng thời với biện chứng nguyên ủy của lực lượng và quan hệ sản xuất trong sự phát triển từ con người khéo léo sang con người lao động (Homo faber), con người đã hoàn toàn là người (der fertige Mensch). Loài người lúc đó như rời khỏi bụng mẹ thiên nhiên để bước sang một thế giới mới, thế giới văn hóa. Con người đi từ lao động nguyên thủy (Homo faber primigenius) đến con người hiện tại, có lao động trí thức (Homo faber sapiens).

Từ công thức cơ bản CMF biểu hiện công thức của dấu chỉ phát triển, Trần Ðức Thảo đã chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận không phải như một hệ thống mà như một phương pháp để nghiên cứu quá trình biến chuyển của những tín hiệu biểu tượng tới sự hình thành nhóm từ chức năng của ngôn ngữ, nhưng ông xác định là chưa bàn tới hình thành nhóm từ đúng nghĩa, kế tiếp giai đoạn ngôn ngữ hỗn tạp. Tác phẩm ROLC vẫn chỉ là một công trình khởi thảo chưa hoàn tất.

Phân tâm học và chủ nghĩa Mác

Phân tâm học là một trong những nguồn tư tưởng lớn ảnh hưởng đến sinh hoạt trí thức nói chung của thế kỷ. Cùng với cấu trúc luận, phân tâm học trở lại sinh động sau biến động 68 ở châu Âu và là đối tượng phê phán của người Mácxit. Cho nên trong phần thứ ba của tập Nghiên cứu, Trần Ðức Thảo đã dành gần một trăm trang để đối chiếu “chủ nghĩa Mác và phân tâm học” với mục đích khai phá “hạt nhân hợp lý” trong những quan sát khoa học thành tựu của phân tâm học. Ông khẳng định:

 

“Chỉ có chủ nghĩa duy vật lịch sử khi phát triển lý luận về những hình thái lịch sử xã hội của cá thể, mới lý giải đứng đắn chất liệu phong phú của những dữ kiện khách quan mà phân tâm học tích lũy được” [10]

Khác với những người Mácxit giáo điều, Trần Ðức Thảo cũng như một số ít người Mácxit khác nhìn nhận mối quan hệ và kế thừa những thành quả khoa học của cấu trúc luận và phân tâm học. Mục tiêu nghiên cứu như đề ra trong tiểu đề là “những nguồn gốc của khủng hoảng Oedipe”. Mặc cảm Oedipe như André Green đã chỉ ra là một “định tố sơ cấp” mặc dầu gắn liền với những hình thái xã hội của mọi thời đại, nhưng độc lập với tính lịch sử này. Mặc khác Oedipe như Moustafa Safouan xác định:

 

“Oedipe không phải là huyền thoại… mà là một cấu trúc theo đó dục vọng sắp đặt thế nào để cấu thành một hiệu quả trong quan hệ của tồn tại của con người, không phải với tính xã hội nhưng với ngôn ngữ” [11] .

Tuy không đồng quan điểm với những nhà phân tâm học coi mặc cảm Oedipe là phổ quát định vị dục vọng, nhưng Trần Ðức Thảo cũng khởi đi từ ý hướng tìm hiểu Oedipe trong vận động của ngôn ngữ. Ông cũng không phủ nhận mặc cảm Oedipe như Deleuze và Guattari [12] và nghiên cứu về khủng hoảng Oedipe đóng góp vào cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm cấu trúc luận này. Quan điểm của ông cũng gần với André Green khi chú trọng đến phương thức cơ bản của mặc cảm Oedipe trong mối quan hệ với người sản xuất.

Trong khi phân tâm học quan niệm mặc cảm Oedipe là phổ quát. Nghĩa là con người sinh ra mang một mặc cảm huyết tộc diễn ra trong mối quan hệ tam giác xung đột (cha – mẹ – tôi), Trần Ðức Thảo nhận định cấu trúc Oedipe không phải là một dữ kiện trực tiếp mà cấu thành như hậu quả của toàn sự phát triển. Ngay chính Freud cũng nhìn nhận ở con gái, mặc cảm Oedipe chỉ là hình thái thứ yếu. Như vậy, trước khi có mặc cảm Oedipe, phải xét đến nguồn gốc của giai đoạn tiền Oedipe, mối liên lạc xã hội đầu tiên của con người. Sự phát triển lao động theo Engels thiết yếu đã góp phần vào việc xiết chặt những dây liên lạc giữa những thành viên của xã hội, khi gia tăng những hỗ trợ lẫn nhau, hợp tác chung và khiến cho mọi thành viên ý thức được tiện lợi của sự hợp tác này. Ở khởi điểm nguồn gốc gia dình, lực lượng thống nhất và hoạt động tập thể của đoàn nhóm đã thấy khả năng tự vệ không đầy đủ của cá nhân. Thực tiễn lao động tập thể đã đưa đoàn nhóm nguyên thủy này thủ tiêu “tính cá nhân thú vật” trong tập thể thú vật này để bước sang xã hội người, cũng như trấn áp được tính ghen tuông tìm thấy nơi động vật. Theo Lenin, đây là một bước quyết định của “công xã nguyên thủy” trong quá độ từ tự nhiên lên văn hóa.

Như vậy khởi sinh của khủng hoảng Oedipe bắt nguồn từ chỗ nào? Khủng hoảng này hàm ngụ hình thái đối lập của một sự xung đột dữ dội giữa những thế hệ, nghĩa là những người con bị dồn ép trong dục vọng bị cấm đoán hướng về những người mẹ và đương đầu một cách phạm tội đối với những mgười cha. Sự ghen tuông chỉ có thể xảy ra trên một cơ sở xã hội. Tuy nhiên, trước hết phải xét đến “bi kịch của người đàn bà về mặt sinh vật” tạo ra những điều kiện của một bi kịch xã hội thực. Ðó là giai đoạn từ thời đồ đá cũ thứ cấp, khi con người đã trở nên con người lao động nguyên thủy: người đàn bà đã ở dạng đứng thẳng, chuyển động bước đi bằng hai chân đã phát triển, cấu tạo hông điều chỉnh lại khiến cho số tử vong vì tai nạn mang thai và sinh đẻ tăng lên khiến số đàn bà ít hơn đàn ông. Dựa vào tư liệu của Nemilov [13] , ở thời Mousterien, tuổi tối đa của đàn bà là 30 trong khi đàn ông sống tới 45 và đàn bà lấy chồng vào tuổi 15 đến 30. Như vậy, quan hệ hôn nhân trai gái trong thời đại này tương ứng theo biểu đồ: về phía nữ, thời con gái bắt đầu từ 0 đến 14 và thời làm mẹ từ 14 đến 30, về phía nam, thời làm con từ 15 đến 29 và làm cha từ 29 đến 45. Mối tương giao tam giác Oedipe như phân tâm học chỉ ra chỉ có ý nghĩa về mặt vận động ngôn ngữ, và cái loạn luân Oedipe về mặt thực tiễn không thể nào xảy ra vì hầu như những con trai bao giờ cũng là những đứa trẻ mồ côi mẹ trước khi đến tuổi dậy thì; nói khác đi cái quan hệ tam giác cha/mẹ/tôi không có gì chung với những quan hệ thân tộc thực, nó chỉ diễn đạt sự mâu thuẫn của những quan hệ xã hội bị chế tài bởi ngôn ngữ [14] .

Sau hàng triệu năm phát triển ngôn ngữ và ý thức trong vận chuyển của lao động và những quan hệ xã hội, con người hình thành đắc thủ được những tập quán hợp nhất và đoàn kết, giải phóng lao động sản xuất khỏi quy luật động vật để tạo ra những quan hệ xã hội mới. Cùng với sự tiến hóa tận cùng của con người Homo habilis, với bi kịch sinh đẻ, người đàn bà không còn theo đàn ông đi săn nữa mà trông nom con cái, cùng với nhóm đàn ông ở nhà để bảo vệ chống thú dữ. Thành ra lần đầu tiên có một sự phân công lao động với sự xa cách nhất thời giữa hai đoàn nhóm. Người đàn bà ở nhà làm nội trợ và những nhân tố đầu tiên của những lực lượng sản xuất công cụ đòi hỏi tiêu thủ tính cá nhân thú vật; chúng ta có thể coi toàn bộ vận động này như sự khai mào quy luật cơ bản của toàn xã hội con người: quy luật tương ứng tất yếu giữa những lực lượng sản xuất và những quan hệ sản xuất.

Con người đã biết sử dụng lửa và những dụng cụ nhỏ tạo thành công nghiệp gia đình đòi hỏi phần vụ đặc biệt của người đàn bà, không thích hợp với những phong tục phóng túng của truyền thống trong cộng đồng nguyên thủy. Do đó có một mâu thuẫn sâu sắc giữa tất yếu xã hội đình hoãn mọi quan hệ tình dục với những đàn bà lo công tác lao động nội trợ tập thể với tự do phóng túng về quan hệ tình dục. Những điều kiện sử dụng lửa nơi người thời Acheuléen chưa biết cách tạo ra lửa theo ý muốn đòi hỏi một trong những nhiệm vụ chính của đàn bà là lo canh gác lửa, tạo ra một cấm đoán tình dục, dưới hình thức cấm tuyệt đối đàn ông giao tình với đàn bà, và khi phạm lỗi có thể bị thẩy vào lửa, tạo ra nghi lễ ăn thịt người, và có thể là khởi đầu của mọi nghi lễ hy sinh của tôn giáo. Cũng chính ở nơi người thời Acheuléen này khởi sinh ảo tưởng của người đàn bà có dương vật (giữ một vai trò đáng kể trong lý luận phân tâm học về mặc cảm Oedipe). Theo Freud, giai đoạn Oedipe nơi trẻ con tương con tương ứng với “sự cấu tạo dương vật” phát triển ở cả hai phái với sự tin tưởng tiền định là mọi người, đàn bà cũng như đàn ông đều có cơ quan sinh dục đàn ông: “Giai đoạn dương vật này đồng thời cũng là giai đoạn của mặc cảm Oedipe” [15] . Tuy nhiên, theo Trần Ðức Thảo, giai đoạn dương vật bắt đầu sớm hơn. Ông đặt bước khởi đầu ảo tưởng của đàn bà có dương vật trong sự phát triển của đứa trẻ ba tuổi tương ứng với người Acheuléen về mặt phát sinh chủng loại. Người đàn bà Acheuléen mang dương vật giả trong khi lo phụng vụ lửa tập thể với nghĩa: “Người đàn bà này, trong khi thi hành nhiệm vụ xã hội phải được kính nể như một người đàn ông” [16] nhằm ngăn cản công việc yêu đương. Tín hiệu của người đàn bà mang dương vật có lẽ được khái quát suốt từ thời tiền và hậu Acheuléen, tăng cường sự tuân thủ cấm đoán tình dục với người nội trợ, ổn định phân công lao động giữa hai phái, khiến lực lượng lao động tiến bộ. Tuy nhiên sự phát triển sản xuất tạo ra những quan hệ mới, dẫn đến những xung đột mới. Khi sử dụng lửa đã tiến tới cá nhân hóa, công việc nội trợ tập thể trở thành nội trợ lứa đôi, như với biểu đồ hôn nhân đã đề cập nơi trên, thiết yếu dẫn tới sự cấm đoán quan hệ tình dục cho tất cả thế hệ trẻ nam, tạo cho thế hệ cha ưu thế và thế hệ con bị dồn ép:

 

“Trong ngôn ngữ của đời sống thực dựa trên mẫu bi kịch xã hội này, những tác động ngữ học mới đem lại cho những từ cha, mẹ, con đã hình thành trong thời kỳ trước một nội dung ngữ nghĩa mâu thuẫn” [17] .

Ở thời kỳ đồ đá cũ, quan hệ giữa người mẹ thực hay những người đàn bà đồng lứa với con trai là quan hệ dưỡng dục, còn ở thời kỳ mà tín hiệu dương vật người đàn bà mang trong công việc nội trợ nhằm tiêu diệt mọi hàm ngụ tình dục trong quan hệ. Những người thanh niên ở tuổi dậy thì đã mất những người mẹ thực, bắt buộc có quan hệ này với những người đàn bà cùng trang lứa mà y phải coi là mẹ, vì họ lấy cha và chính y sẽ lấy một trong những người con gái của họ. Cho nên nội dung ngữ nghĩa nguyên thủy của Mẹ coi như “mẹ nuôi dưỡng giúp đỡ và mang dương vật”, còn mang ý nghĩa mâu thuẫn là “me, đối tượng của dục vọng”, cũng như “người cha dưỡng dục” còn mang ý nghĩa mâu thuẫn là “cha, đối thủ với con trai”.

Trong những cộng đồng ở thời đồ đá cũ cao cấp, nhóm người lớn tuổi mặc dù là thiểu số tạo thành một tầng lớp xã hội đặc biệt, nhờ kinh nghiệm tạo những tiến bộ kỹ thuật về công nghệ đánh dấu sự xuất hiện của con người lao động trí thức. Có thể chính tầng lớp này nắm quyền xã hội và nguồn gốc của tục cắt da qui đầu thực hiện trong những lễ nghi dẫn vào tuổi dậy thì bắt đầu từ thời kỳ này, nhằm bắt trẻ dậy thì từ bỏ dục vọng tình dục cho đến tuổi được kết hôn. Ðiều này tương ứng với những mặc cảm thiến hoạn nơi trẻ con năm tuổi. Biểu tượng thiến hoạn nhằm củng cố quyền lực của người lớn tuổi cũng thủ tiêu tín hiệu tạo ra ý nghĩa cơ bản của mặc cảm này nơi ảo tưởng của đàn bà có dương vật. Biểu tượng này thể hiện trong những nghi lễ phá trinh những cô gái, không phải chỉ chọc thủng màng trinh, còn cắt tiểu âm thần và đôi khi cắt cả mồng đóc. Vào thời đại này, tuổi thọ đã tăng và do sự bất quân bình giữa hai phái, những người đàn ông góa lớn tuổi có quyền ưu tiên cưới những cô gái đến tuổi lấy chồng. Ðó là lý do tầng lớp người già dùng sự thiến hoạn tượng trưng để củng cố quyền hạn trong hôn nhân, khiến những thiếu nữ phải lấy chồng vào tuổi lứa tuổi cha họ. Ðiều này có thể giải thích luận điểm của Freud là: trong khi mặc cảm Oedipe nơi con trai lặn đi dưới mặc cảm thiến hoạn , lại có khả năng diễn ra do mặc cảm thiến hoạn nơi con gái. Freud coi sự khác biệt này là một hệ quả tự nhiên của sự phân biệt cơ quan sinh dục và hoàn cảnh tâm linh; Trần Đức Thảo quan niệm sự khác biệt này chủ yếu có nguồn gốc xã hội. Trong điều kiện người già thống trị, những người “cha” lợi dụng để lập chế độ đa thê, cưới những cô gái trẻ làm vợ thứ, và kết qủa là trong những gia đình đa thê, người chồng và người vợ đầu ở tuổi cha mẹ của những người vợ mới, và người này dễ dàng trở nên ghen với “mẹ” cùng chung chồng, ở vào địa vị người “cha” của mình. Trần Đức Thảo nhìn nhận mặc cảm Oedipe được cấu thành, trong những điều kiện của thời đồ đá cũ cao cấp này, mặc cảm Oedipe nơi phái nữ có thể coi như sự hình thành cuối cùng có tính cơ tâm linh phản ứng một cách tiền định trong thời tiền sử âú trĩ. Sự cắt da qui đầu là tín hiệu cấm đoán loạn luân giữa “con trai” với “mẹ” nhưng mở đường cho sự loạn luân giữa “cha” và “con gái”. Sự loạn luân, nói chung chỉ bị cấm đoán khi xã hội có lệ ngoại hôn. Ở những xã hội ngoại hôn này, cắt da qui đầu mang ý nghĩa một sự cấm đoán toàn diện về loạn luân.

Ðó là thời đồ đá trung, bi kịch sinh vật nơi người đàn bà đã kết thúc, chấm dứt tiến hoá sinh vật – xã hội với thiết lập chế độ ngoại hôn như bước đầu của lịch sử xã hội. Khi cấu trúc kết hôn ngoại tộc đã hình thành cấu trúc thực sự của những quan hệ tình dục của con người thì mặc cảm thiến hoạn thì không còn tuyệt đối giữ vai trò cấu trúc hóa của những cơ quan hệ tình dục nơi con người nữa. Những hình thái tâm linh liên hệ đến mặc cảm Oedipe chỉ là những hình thái ngữ nghĩa từ nguyên ủy ở trong thời tiền sử của nhân loại do vận động vật chất của dấu chỉ bằng cử chỉ và bằng lời đựơc tạo theo khuôn khổ của biện chứng sinh vật-xã hội trong thời kỳ khởi sinh của nhân loại. Những vận động cơ bản của khởi sinh nhân loại bao gồm sự phát triển lao động, ngôn ngữ và ý thức và những quan hệ xã hội, do đó khủng hoản Oedipe trong những quan hệ hôn nhân, ngôn ngữ và ý thức chỉ là biến trạng của sự phát triển, tuyệt đối không phải là một “giai đoạn tất yếu” trong sự phát triển của loài người Homo [18] .

Trần Đức Thảo nhận định phân tâm học có tác dụng chữa bệnh vì tâm bệnh biểu hiện nơi mặc cảm Oedipe là một bệnh của ngôn ngữ, do đó có khả năng của một sự điều trị bằng chính ngôn ngữ. Tuy nhiên lý luận phân tâm học chỉ mang những khái niệm chung có tính miêu tả, gồm một số chất liệu phong phú những sự kiện cụ thể, nhưng không có khả năng lãnh hội chung trong những xác định cụ thể và chỉ có chủ nghĩa duy vật lịch sử mới có những khái niệm khoa học thiết yếu để đi sâu vào nội dung nhất định của những hiện tượng tâm linh và đem lại một lý giải rõ ràng. Từ quan điểm này, xung động Oedipe mang mâu thuẫn biện chứng được xác định qua lịch sử giữa hai quy luật: quy luật nguyên thủy của cộng đồng đàn bà bảo đảm sự thống nhất và liên đới tất yếu trong khởi đầu sản xuất ra công cũ và qui luật mới của hôn nhân lứa đôi đề ra trong sự tiến bộ của những lực lượng sản xuất, nhất là sự phát triển công nghệ gia đình ở thời Mousterien [19] . Mâu thuẫn của hai quy luật này mang hình ảnh của một sự xung đột sâu sắc giữa các thế hệ, biểu hiện bi kịch xã hội diễn ra trong bi kịch tâm 1ý trẻ con và người bị loạn thần kinh. Sự phát triển nhân cách theo Trần Đức Thảo không thông qua mặc cảm Oedipe vì từ ba tuổi, đứa trẻ trải qua hai con đường: mối liên hệ đồng nhất không đối nghịch với cha mẹ xảy ra vào hai tuổi và dục vọng ghen tị chỉ bắt đầu vào ba tuổi, nhưng chỉ có con đường thứ nhâát mới có một tương lai thực và hoàn tất một cách hưũ hiệu chuyển biến của con người. Con đường dục vọng chỉ là một biến thể, xác định với mặc cảm thiến hoạn, giảm trừ Oedipe vào hiện hữu ngầm của vô thức: vô thức trong nội dung Oedipe chỉ là tồn tại của một ngôn ngữ bị bóp méo ngay tự nguồn. Tóm lại, mặc cảm Oedipe ở bất cứ cấp độ nào cũng không thấy ở nguồn gốc của bản ngã trẻ con; nó đối lập ngay từ đầu với cấu trúc sâu sắc nhất của hiện hữu cá nhân, và như vậy mở đường cho bêänh loạn thần kinh phá hũy bản ngã. Nó là ngôn ngữ tha hóa, bị bủa vây trong bất lực để khuấy động triền miên trong sự bế tắc khủng hoảng của những giấc mộng và ác mộng, ám ảnh và ảo ảnh [20] .

Người Mácxít Việt Nam duy nhất

Qua hai tác phẩm chính PMD và ROLC của Trần Đức Thảo, lý thuyết nhất quán xuyên suốt là quy luật tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xác định sự chuyển biến của lịch sử con người. Khi đọc Husserl qua Ideen II, Trần Đức Thảo đã chú ý đến thái độ nhân chủ (l’attitude personnaliste) trong tư tưởng của Husserl xác định thế giới của tinh thần (le monde de l’esprit) được biểu trưng như một thái độ thực tiễn, trong đó cái hiện thực chỉ có ý nghĩa trong những mối liên hệ chủ thể cụ thể, trong đời sống kỳ thành [21] . Trên con đường từ hiện tượng luận qua chủ nghĩa Mác,Trần Đức Thảo khẳng định cơ sở thực của”thế giới tinh thần” được thể hiện nơi vận động của giai cấp vô sản nhằm thủ tiêu mọi cấu trúc giai cấp, ở đó lịch sử không còn là lịch sử của những giai cấp lãnh đạo nữa, mà là lịch sử của lao động sản xuất và những quan hệ của con người [22] . Từ khái niệm ý thức là”vận động của vật chất” của Engels, ông đã lập lại quan điểm của Marx là không có ý thức tự tại, mà chỉ có ý thức dựa trên lý giải về “những mâu thuẫn của đời sống vật chất” – sự xung đột giữa những lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất hiện hữu [23] . Ở tác phẩm sau ROLC, Trần Đức Thảo lại xác định, từ sự thống nhất đẹp đẽ ở buổi đầu cộng đồng con người nguyên thủy đã tự hủy diệt để nhường chỗ cho cuộc vận động nghịch lý trường kỳ, ở đó sự phát triển của bản chất xã hội của con người xây dựng trên sự tiến bộ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện trong hình thái nghịch đảo của hủy thể như thể sự tha hóa của chính con người chỉ kết thúc bằng cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tân tiến, như hủy thể của hủy thể mới cho phép phát triển toàn diện mọi kế thừa tích cực của sự phát triển lịch sử [24] .

Trong một viễn tượng lịch sử như vậy, ông cần phải nại tới khái niệm cơ bản của triết học Hegel, mà chủ nghĩa Mác kế thừa là khái niệm về toàn thể. Cho nên trong những dòng kết thúc “Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng” Trần Đức Thảo phát biểu “chủ nghĩa Mác là vận động kỳ thành của xã hội.” Không có chuyển biến tư tưởng nơi Trần Đức Thảo từ PMD qua ROLC, như những kết luận đã dẫn nói trên trong những nghiên cứu của ông. Trần Đức Thảo vẫn vận dụng khái niệm then chốt Aufhebung trong biện chứng của Hegel để giải đáp những vấn đề căn bản đặt ra trong những tác phẩm của ông. Về điểm này, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc những bài học của Kojève từ trường Cao Ðẳng Sư Phạm. Mặt khác, một nhà tâm lý cũng dựa trên khái niệm Aufhebung để giải quyết những vấn đề trí thức là J. Piaget [25] ; điều này giải thích lý do Trần Đức Thảo rất tin cậy vào những phát hiện và tư liệu tâm lý của Piaget qua hai tác phẩm.

Trong mười mấy năm, khoảng cách nghiên cứu giữa hai cuốn sách, ông vẫn suy nghĩ về những vấn đề đặt ra trong tư tưởng Hegel, tập trung trong tác phẩm “Hiện tượng luận về tinh thần”. Sự khác biệt giữa hai cuốn sách là, trong hoàn cảnh xã hội ông sống, Trần Đức Thảo phải trở thành một người Mácxít-Lêninít. Cho nên, trong ROLC ông dẫn nhiều đến Lenin như một điểm dựa về mặt quan điểm. Nhưng đọc Hegel, ông vẫn đặt trong khung cảnh trí thức, bắt nguồn từ Kojève, Hyppolite và Merleau-Ponty. Những suy tư của ông cũng biến ứng theo những trào lưu tư tưởng thế giới từ hiện tượng luận, phân tâm học qua cấu trúc luận. Tuy không có khuynh hướng chiết trung, nhưng những vấn đề đương đầu với thực tại tư tưởng mang những sắc thái của chủ nghĩa Mác hiện tượng luận, chủ nghĩa Mác theo Hegel, chủ nghĩa Mác cấu trúc luận như những người Mácxít khác: Habermas, Enzo Paci [26] . Khi phê phán những dòng triết lý tác động sâu xa vào cuộc sống xã hội, Trần Đức Thảo cũng cực đoan như những người Lêninit dồn mọi đối thủ vào một cương tuyến của chủ nghĩa phi lý toàn diện [27] . Phê phán những vấn đề quan điểm của Trần Đức Thảo phải đặt trong viễn tượng chung là phê phán từ căn để chủ nghĩa Mác, đó là điều tôi sẽ trình bày ở nơi khác trên một bình diện rộng lớn hơn [28] .

Khi phê phán hiện tượng luận của Husserl, ông vẫn dựa vào phương pháp phân tích hiện tượng luận để đi tìm cái nguyên ủy của thực tại để chỉ ra rằng học thuyết của Husserl về sự vật thiếu hẳn sự cấu thành sự vật không thể giảm trừ vào ý tưởng hóa trong ý thức. Ði tìm đến nguồn gốc của ý thức, ông muốn dựa trên một khởi điểm duy vật là thực tại và tin tưởng vào phương pháp biện chứng, xa lạ với hiện tượng luận của Husserl, để tìm hiểu sâu xa về vận động thực. Ông đã không nhìn ra trong nỗ lực trí thức của Husserl đã muốn vượt lên trên mâu thuẫn của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Mặt khác trong tác phẩm ROLC, ông vẫn không vượt ra khỏi tầm nhìn của phương pháp hiện tượng luận trong việc sử dụng lý luận giảm trừ trong những mô tả về tác động của dấu chỉ.

Ði tìm nguồn gốc của ngôn ngữ, khởi điểm cấu trúc luận đã bắt đầu sâu xa từ những người tiền khu như Herder. Trong “Luận về nguồn gốc của ngôn ngữ” [29] , Herder đã đưa ra một luận điểm cơ bản: con người là vật tạo ra của ngôn ngữ. Trần Đức Thảo đã tiếp thu những bài học của cấu trúc luận, ngay cả trên những chứng bệnh giả khoa học như xu hướng công thức hóa, định lượng hoá tìm thấy trong học thuyết của Lévi-Strauss [30] . Lấy một thí dụ trong ROLC: từ công thức CMF đã nói ở trên, mà Trần Đức Thảo gọi là công thức ngữ nghĩa, đôi khi còn gọi là cấu trúc, ông đặt thành một “tổ hợp” dưới hình thái:

 

MFC – CF1 M (12)

được phát biểu là: “vận động trong hình thái (F) liên hệ đến cái này – cái này trong hình thái (F1) như thể nó xuất hiện trong vận động của nó (giả định)”.

Mượn từ kho tư liệu tâm lý của Gvosdev, lấy thí dụ của đứa trẻ 20 tháng đòi sữa: “ico maka” (tạm diễn tả sang tiếng của trẻ con Việt là: măm sữa). Những từ hỗn tạp này như từ ico ở đấy chỉ một sự vận động thèm muốn trong hình thái muốn thêm liên quan đến “cái này”, maka chỉ thị “cái này” trong hình thức bú. Như vậy chúng ta có một ý chỉ toàn diện là: “Vận động trong hình thái thêm (A) liên hệ đến cái này – cái này trong hình thái bú (B) như thể nó xuất hiện trong trong vận động của nó (giả định)”, đặt thành công thức là MAC – CBM, phù hợp với công thức (12). Người ta thấy ngay là những tác động dấu chỉ khai triển đã hàm ngụ hai từ và cho chúng ý nghĩa, nó sinh ra một liên lạc đồng nhất thời khoảng của “cái này” trên ảnh tượng có ý nghĩa đầu với cùng thời khoảng trên ảnh tượng thứ hai. Bởi vì tác động lấy trên khuôn mẫu từ hoàn cảnh thực, và thực sự chỉ cùng một “cái này”. Hiển nhiên có thể đặt liên lạc thiết lập giữa hai ý chỉ, được viết thành công thức:

 

MAC- ( CBM )

phát biểu như sau: “Vận động trong hình thái liên hệ cái này, có nghĩa là đối tượng – sữa (CBM)”. Nếu chuyển cái liên lạc ở đây trên bình diện dùng cử chỉ sang bình diện phát biểu bằng lời, chúng ta sẽ có liên lạc phát biểu đúng cú pháp là: “muốn bú sữa thêm” [31] .

Trong suốt phần hai: khai sinh ra ngôn ngữ, Trần Đức Thảo đã sử dụng những tổ hợp cấu trúc khác nhau như vậy nhằm phân tích “cấu trúc khách quan” của tác động, qua những tiếng hỗn tạp cho đến khi hình thành những nhóm từ chức năng, nghĩa là những câu đúng cú pháp (như thí dụ dẫn trên). Khi dùng những “công thức” như trên, ông muốn chứng tỏ cái liên hệ giữa vận động bằng lời và vận động bằng cử chỉ, mà theo ông, toàn bộ vận động cử chỉ tạo thành cơ sở cho ngôn ngữ. Dùng những ký hiệu riêng trong mối quan hệ tác động qua lại giữa những công thức, không dựa vào luận lý hình thức hay toán học, hay vận dụng từ ngôn ngữ hình học, hoặc đại số học – công thức hóa trong lý luận của ông giống như những loại công thức hóa của nhiều nhà cấu trúc luận không có tính thuyết phục, cũng không có cơ sở để tồn tại.

Hấp thụ giáo dục truyền thống triết lý Pháp, Trần Ðức Thảo vẫn hướng về một viễn tượng đạo lý, ở PMD là “tái thiết lập nội dung công chính” những giá trị con người “trên một bình diện cao hơn của nhân loại mới”. Ở ROLC là những quan hệ liên chủ thể (rapports intersubjecticfs) biểu hiện nơi khai sinh ra nhân cách con người ở buổi đầu nhân loại, “cái cử chỉ trỏ ngón tay về người đối diện”, và “trở lại chính mình” là hình ảnh qua lại giữa “anh” và “tôi”, chính cái ngôn ngữ đầu có tính cách riêng của con người khi phản ánh trong ngôn ngữ nội tâm của ý thức đã đưa chủ thể lên hình thái lý tưởng của hiện hữu riêng của người” [32] .

Tuy nhiên, riêng về phần đời của ông, sự xuất hiện trên diễn đàn tư tưởng Pháp cũng là một cơ hội để những bản viết của ông không phải mang số phận làm những di cảo.

Nhưng do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, ông đã trở thành người lạc hậu trong sinh hoạt tư tưởng sau này. Khi ông mất, nhiều tác giả Pháp đã nói đến hoàn cảnh của ông, như trong quyển của F. Dosse (Paul Ricoeur, Les sens d’une vie), J.-F. Revel (Mémoires).

Dầu sao, cái chết của Trần Ðức Thảo (1917 -1993) cũng là cái chết một người Mácxit duy nhất của Việt Nam.

 


[1]Trần Ðức Thảo, Recherches sur l’origine du language et de la conscience, Editions Sociales, 1973.
[2]ROLC, tr, 35
[3]Khi dẫn đoạn văn của Lênin trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Trần Ðức Thảo nhấn mạnh ở từ “những dấu chỉ”, và ghi chú bản dịch tiếng Pháp lần thứ tư của Editions Sociales đã từng dùng từ chứng cớ (témoignage) thay từ những dấu chỉ (les indications), cho nên ông đã chua thêm tiếng Nga pokasaniiam ở nguyên tác. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên chú ý là những bản dịch chính thức của nhà xuất bản ngoại văn Liên Xô đều dùng từ chứng cớ. Xem bản tiếng Anh: Acceptance or rejection of the concept matter is a question of the confidence man places in the evidence of this sense organs, a question of the source of our knowledge (Materialism and Empirio-criticism, tr. 114), bản tiếng Tây ban nha : El admitir o rechazar el concepto de materia es un problema de confianza del hombre en el testimonio de sus órganos de los sentidos, es la cuestión del origin de nuestro conscimiento (Obras escogidas. Tomo IV, tr 119)
[4]ROLC, tr 76
[5]Engels, Dialectique de la nature, Editions Sociales 1971, tr 180
[6]ROLC, tr. 96 bắt nguồn từ khái niệm “xác thực khả xúc” của Hegel trong Hiện tượng luận về tinh thần, hình thái nguyên uỷ của ý thức, hay mục tiêu định hướng của “cái này”.
[7]X.ROLC, tr. 123.
[8]X.ROLC, tr. 123
[9]Marx, Manuscrits de 1884, ES tr. 63
[10]ROLC, tr. 257
[11]Moustafa Safouan, De la structure en psychanalyse in Qu’est ce que le strucuralisme?, Editions du Seuil 1968, tr. 241
[12]Deleuze và Guattari, L’Anti-Oedipe, Editions de Minuit 1972; X. phê phán tác phẩm này trong Ðặng Phùng Quân, Triết học và văn chương, NxB Lửa Thiêng 1974 tr. 181 – 197.
[13]ROLC, tr. 263 – 265
[14]Sđd, tr. 268 – 269
[15]Freud, La vie sexuelle, P.U.F., tr. 118
[16]ROLC, tr. 297. Trần Ðức Thảo dẫn chứng Forrer đã phát hiện trong di tích thời Acheuleen ở Burbach, những nửa mảnh răng tiền hàm loài trâu nước có hình dạng dương vật, và theo ông nếu giả thuyết của ông đúng thì những răng hình dương vật này có thể do những bà nội trợ mang vào thời kỳ này như tín hiệu của sự cấm đoán tình dục yên ổn cho họ trong công tác phục vụ cộng đồng.
[17]ROLC, tr. 301
[18]Sđd, tr. 331
[19]Sđd, tr. 335
[20]Sđd, tr. 340
[21]PMD, tr. 94 – 95
[22]Sđd, tr. 318
[23]Sđd, tr. 319
[24]ROLC, tr. 295
[25]Piaget, Le structuralisme, P.U.F. 1968
[26]Habermas, Zur Rekonstruktion des Historischen Materialismus, Suhrkamp Verlag 1976, Enzo Paci, Funzione delle Scienze e Significato dell’Uomo, bản dịch tiếng Anh 1972
[27]Xem thêm Triết lý đã đi đến đâu của Trần Ðức Thảo; luận điểm này là thái độ chung của người cộng sản dưới thời Stalin, chẳng hạn Lukacs, Die Zerstorung der Vernunft, Gesamtausgabe Bd 9. Trong Vorwort 1967, lời mở đầu tác phẩm Geschichte und Klassenbewusstsein (1923), Lukács có thái độ cởi mở như khi ông coi giữa Heidegger và ông, vấn đề đi trước và ảnh hưởng không đáng quan tâm mà cái quan trọng là sự tha hóa của con người là vấn đề then chốt của thời đại đối với mọi nhà tư tưởng tư sản cũng như vô sản (Prioritaten, Einflusse etc. sind dabei nicht allzu interessant. Wichtig bleibt bloss, dass die Entfremdung des Menschen als ein Zentralproblem der Zeit, in der wir leben, von burgerlichen wie proletarischen, von politisch-sozial rechts oder links stehenden Denkern gleicherweise erkannt und anerkannt wurde ), Sđd. Hermann Luchterhand Verlag 1968, tr 23.
[28]X. Phê phán hệ tư tưởng macxit
[29]Herder, Abhandlung uber den Ursprung der Sprache (1772)
[30]Lévi – Strauss, Mythologiques : Le Cru et le Cuit
[31]ROLC, tr, 150 – 151. Trần Ðức Thảo chú thích ico maka sang tiếng Pháp là Enco lait và câu nói đúng cú pháp là: “encore du lait”.
[32]PMD, tr. 365 và ROLC, tr. 339