TÔ HOÀI & CÁT BỤI CHÂN AI

Nguyễn Thiên Thụ

Sau 1945, Tô Hoài vẫn viết khỏe: Núi Cứu Quốc (1948), Ngược Sông Thao( 1949), Vượt Tây Côn Lĩnh (1949), Đại Đội Thăng Bình (1950), Chính Phủ Tạm Vay (1951), Xuống Làng (1951), Truyện Tây Bắc (1953) , Cứu Đất Và Cứu Mường( 1954), Tào Lường (1955), Khác Trước (1957), Mười Năm (1958), Thành Phố Lê Nin ( 1961), Vỡ Tinh (1962), Tôi Thăm Căm Pu Chia (1964), Con Mèo Lười (1964), Miền Tây(1967), Nhật Ký vùng Cao(1969), Tuổi Trẻ Hoàng Văn Thụ(1971), Người Ven Thành (1972), Cát Bụi Chân Ai (1990).
Các tác phẩm của Tô Hoài hầu hết là văn tuyền truyền, tô vẽ cuc kháng chiến và xã hội chủ nghĩa tươi đẹp. Tô Hoài đã đáp ứng những yêu cầu của đảng cho nên ông được các phê bình gia cộng sản khen ngợi. Ngược Sông Thao ca tụng chiến dịch Tây Bắc, như trận Phố Ràng, đồn Dòm, Đại Bục, Đại Phác.Vượt Tây Côn Lĩnh ca tụng trận đánh ở trên ngọn Tây Côn Lĩnh rét buốt. Đại Đội Thăng Bình, ca tụng một đại đội hoạt động ở vùng địch hậu. Chính phủ Tạm Vay nhắm phục vụ chính sách thuế nông nghiệp. Truyện Tây Bắc được giải nhất năm 1954-1955 của hội Văn Nghệ Việt Nam. Truyện Khác Trước tố cáo phong kiến, địa chủ, và ca ngợi đảng . Nói chung, đường hướng sáng tác của ông là đi theo chủ trương của đảng, theo đơn đặt hàng của đảng.
Tô Hoài có nhiều đề tài. Có năm đề tài trong các tác phẩm Tô Hoài:
– Thôn quê Việt Nam: Khác Trước, Mười Năm, Người Ven Thành v. v..
– Tây Nguyên: Truyện Tây Bắc ,Tào Lường , Miền Tâyv.v..
– Các nước xã hi chủ nghĩa: Thành Phố Lê Nin, Tôi Thăm Căm Pu Chia
– Hồi ký, bút ký: Vỡ Tỉnh, Xuôi Sông Hồng, Cát Bụi Chân Ai v.v..
– Truyện thiếu nhi; Con Mèo Lười, Vừ A Dinh
Ngoài ra ông có một số về bài về lý luận văn học, và kinh nghiệm viết văn.
Đề tài Tô Hoài tâm đắc nhất là Tây Nguyên. Ông đã ăn dầm nằm dề tại các vùng Tây Nguyên sống với các dân tộc Tày, Mông, Thái cho nên ông đã từ thực tế mà viết nên Truyện Tây Bắc , Tào Lường, Miền Tây. . .
Trong các truyện miền núi, Tô Hoài đã viết về các phong tục của đồng bào miền núi như tục ở rể, đi ở cuông, chơi hang, tắm suối nước nóng, tục uống rượu, thổi khèn, thổi sáo, đánh pao v.v..Tập TruyệnTây Bắc của Tô Hoài đã được giải thưởng của hội Văn Nghệ Việt Nam 1954-1955. Truyện này gồm ba truyện ngắn: Cứu Đất Cứu Mường, Mường Giơn, Vợ Chồng A Phủ, trong đó truyện Vợ Chồng A Phủ được đảng khen ngợi, đem làm tài liệu giáo khoa bậc trung học. Pà Tra làm thống lý( chánh tổng, lý trưởng) ở Hồng Ngái, cho bố Mị vay tiền cưới vợ. Bố Mị trả nợ hoài không hết. Mị bị bắt về làm vợ A Sử, con trai của Pà Tra. Mị sống khổ sở. Một hôm A Sử đi chơi, bị A Phủ đánh trọng thương. Pà Tra bắt A Phủ phạt vạ một trăm đồng. A Phủ phải đi ở suốt đời trả nợ. Cọp ăn con bò của Pà Tra. Pà Tra trói A Phủ, Mị cởi trói cho A Phủ, rồi hai người trốn đi. Truyện này có mục đích tố cáo chế độ phong kiến trên miền núi. Có một điều đáng nói là trong kháng chiến chống Pháp cũng như sau 1954, khi cộng sản thi hành cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, thi hành chính sách kinh tế mới, thì đồng bào miền núi cũng bị cộng sản phá rừng , cướp đất, đãu tố, đuổi dân ra khỏi nơi họ cư trú, giết hại và bỏ tù hàng vạn người mà không một ai dám viết về vấn đề này!
Nói chung, Tô Hoài rất khôn, ông luôn luôn tô lục chuốt hồng cho chế độ, luôn ca tụng tinh thần chiến đãu của bộ đi, tình quân dân thắm thiết, chính sách nông nghiệp, chính sách dân tộc là những đề tài đã được đảng và nhà nước quan tâm. Có như vậy, Tô Hoài mới được đảng tin cậy. Tuy nhiên, cũng có lúc Tô Hoài bị đảng đánh tơi bời. Đó là giai đoạn 1957-1958, là giai đoạn người ta khủng bố văn nghệ sĩ. Cả một phong trào chống đảng bùng lên, Tô Hoài cũng thấy phấn khởi và viết hai bài:
– Tổ Chức Phát Triển Lực Lượng Sáng Tác Trước Nhất. Văn, số 13, ngày 2-8-1957.
– Góp Phần Vào Ý Kiến Vào Con Người Thời Đại. Văn, số 22, ngày 4-10-1957.
Qua hai bài này, Tô Hoài muốn đảng chú ý về đào tạo sáng tác trước, coi nhẹ việc học tập chính trị. Tô Hoài chủ trương không nên dán thuốc cao khi chưa có nhọt đầu đanh. Tô Hoài chủ trương để cho nhà văn sáng tác theo khả năng, theo ý muốn của nhà văn chứ không theo đơn đặt hàng của đảng. Sau khi đảng đánh Nhân Văn, Giai Phẩm, đảng thanh toán luôn Tô Hoài khiến ông phải viết bài tự kiểm thảo: Nhìn Lại Một Số Sai Lầm Trong Bài Báo Và Trong Công Tác đăng ở tạp chí Nhân Dân, ngày 12 tháng 3-1958.
Họa vô đơn chí, Tô Hoài cũng bị lao đao vì Mười Năm (1958). Có lẽ những tay công an văn nghệ muốn lập công cho nên họ ra sức đánh phá khắp nơi. Trong Mười Năm , tác giả chỉ muốn tô đen xã hội cũ, từ thời thực dân đến cách mạng tháng tám, nào là cảnh một làng thủ công bị phá sản vì kinh tế khủng hoảng, nào nạn chết đói năm 1945. Họ liền chụp mũ Tô Hoài, cho là Tô Hoài tiêu cực, Tô Hoài không nói đến lực lượng quần chúng, đến sự lãnh đạo của đảng, không tô vẽ những chiến sĩ cộng sản đãu tranh anh hùng. . .Họ phê bình Tô Hoài theo tự nhiên chủ nghĩa, không theo đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa!(Tác Giả Văn Xuôi Việt Nam Hiện Đại, 105)
Sự phê bình này quả thật hàm hồ. Sau vụ tấn công Nhân Văn, Giai Phẩm, những kẻ say máu lại ùa lên làm thịt Tô Hoài nhưng bọn họ cũng nhận ra cái cuồng điên của họ nên không trừng phạt nặng Tô Hoài.
Có lẽ loại hồi ký của Tô Hoài là có giá trị vì đó là sự thực cho dù là sự thực đã được tô chuốt. Nhiều người thích Một Số Kinh Nghiệm Viết Văn Của Tôi (1959) và Người Bạn Đọc Ấy (1964). Và gần đây, người ta cũng thích Cát Bụi Chân Ai của Tô Hoài.
Cát Bụi Chân Ai đuợc viết xong năm 1990, Hồng Lĩnh ở Hoa Kỳ tái bản 1993, sách dày 338 trang.
Tác phẩm này là một thiên hồi ký về cuộc đời tác giả. Phần lớn tác giả viết về mối liên hệ giữa tác giả và các nhà văn, nhà thơ khác. Ông dành rất nhiều trang viết về Nguyễn Tuân, quanh đi quẩn lại vẫn Nguyễn Tuân. Một phần viết về Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, về Tây Bắc, về phố phường Hà Nội, và về Nhân Văn, Giai Phẩm v. v..
Nhìn chung, Cát Bụi Chân Ai cho ta biết những điều như sau:
– Cuộc đời của ông và một số tác giả như Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính , Nguyên Hồng, Xuân Diệu v. v..
– Cải cách ruộng đất
– Chỉnh huấn
– Nhân Văn, Giai Phẩm
– Chính sách tàn ác và khắc nghiệt của cộng sản và nỗi đau đớn và tủi nhục của các văn nghệ sĩ dưới ách độc tài cộng sản.
– Chính sách đi thực tế của cộng sản.

1. Cuộc đời văn nghệ của Tô Hoài:

Trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài cho biết mối tương quan của ông với các nhà văn khác. Sau 1945, ông và Nguyễn Tuân có dịp gần gũi nhau hơn. Nhưng thuở trẻ, ông và Xuân Diệu rất thân mật. Vì Xuân Diệu đã xem Tô Hoài là tình nhân:
‘ Thỉnh thoảng Xuân Diệu lại lên nhà tôi. Vẫn nắm tay cả buổi, nhìn tha thiết. Xuân Diệu yêu tôi’ !( 191) Khi ở cơ quan trong rừng, Tô Hoài ngủ lại với Xuân Diệu ở nhà tập thể:
‘Bàn tay ma ở đâu rờn vào. Không phải. Tay người, bàn tay người đầy đặn, ấm ấm. Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt, lên cổ rồi xuống dần xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ. . . chẳng còn biết đương ở đâu, mình là ai, ta là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quít, cánh tay, cặp đùi thừng chão trói lại, dằng ra. Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, dữ dội dằng ngữa cái xác thịt kia’ (192-193).
Trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài nhắc nhở đến việc ông bị tố về hai bài viết trên báo Văn, khiến cho ông phải viết bài kiểm điểm rất dài trên báo Nhân Dân ngày 12-3-1958. Bài tự kiểm của ông có đoạn:
Sau đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, cũng như tất thảy anh chị em văn nghệ sĩ, tôi rất phấn khởi trước sự thành lập những hội riêng của các ngành.
Tôi thường nghĩ rằng: Đường lối thì đã có ở thư của trung uơng đảng gửi đại hội, đúng quá, rõ quá rồi. Chúng ta chỉ còn lo liệu sao cho nhau ra sức sáng tác mà thôi. một mặt khác, đối với những tư tưởng chính trị nguy hiểm và những quan điểm nghệ thuật sai lầm bộc lộ trên báo Nhân Văn và các tập Giai Phẩm của Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, tôi ngỡ ngàng trước phong trào quần chúng đãu tranh phản đối như vừa qua, họ phải sáng ra, như vậy là đã giải quyết xong những lệch lạc ấy.
Cái quan điểm nhẹ nhàng đến độ vô lý nguy hiểm như trên, đã đưa tới cái nhìn, cùng với những lý luận sai lầm trong chủ trương công tác của tôi ở hội Nhà Văn Việt Nam và cụ thể trong một số việc làm, một số bài viết của tôi( 127).
Bài tự kiểm của Tô Hoài đã đạt yêu cầu vì một là ông đã tố cáo Nhân Văn, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, và hai là ông đã tự tố cáo ông. Do đó, ông không bị tù tội hay treo bút như những người khác.
Về Mười Năm, ông viết:
Tiểu thuyết Mười Năm của tôi mới phát hành- một trong những ấn phẩm cuối cùng của nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Lập tức các báo mổ xẻ, phê bình. Quất mạnh và lý lẽ nhất, bài của Như Phong trong ban biên ủy báo Nhân Dân in trên báo ấy và bài của Trần Độ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Đấy cũng là một quyển sách còn sót lại thúc đẩy đóng cửa nhanh nốt nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
Rồi Võ Hồng Cương thường trực hội Văn Nghệ tổ chức một trận phê bình miệng. Nhà văn, nhà lý luận phê bình, nhiều cán bộ giáo dục tfrường đảng và tỉnh ủy Hà Đông tham dự. Mười Năm, một tiểu thuyết bộ ba của tôi viết về quanh cảnh và con người quê tôi, vùng nghề thủ công phía tây bắc thành phố vào ba thời nối nhau. Tiểu thuyết Quê Nhà nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in khoảng thập kỷ bảy mươi. Sự việc cuối thế kỷ trước, sau hai lần quân Pháp hạ thành Hà Nội, các làng ngoại thành vẫn nổi lên. Tiểu thuyết Quê Người, cuốn truyện dài đầu tay, xưa kia tôi viết cùng thời với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Giăng Thề, O Chuột. Quê tôi, lĩnh lụa nghề tổ bị lụn bại, người làng bỏ đi tha hương đất khách quê người. Tiểu thuyết Mười Năm cũng như một tiểu thuyết tự truyện, một đám thanh niên trong làng nhen nhóm phong trào chống đối đưa tới cách mạng.
Tiểu thuyết Mười Năm được viết ra, những năm đó tôi còn về ở Nghĩa Đô làng tôi. Văn Cao làm bìa, Văn Cao bắt đầu vẽ bìa để sinh sống. Làn nước chảy đìu hiu dưới chân cầu, thời gian trôi muời năm nước chảy qua cầu.
Có hai người phát biểu gay gắt nhất. Như Phong:
– Mười Năm có thể là một tiểu thuyết khá, vì đãy cũng là thực tế ở làng quê tác giả và chính tác giả. Nhưng nó đã được chuẩn bị và sáng tác trong thời kỳ Nhân Văn lũng đoạn nên bị ảnh hưởng xấu. Các nhân vật cán b cách mạng đã bị bóp méo đến thảm hại.. . .
Lưu Quyên dõng dạc quyết đoán:
– Tôi là người chịu trách nhiệm về Hà Đông thời kỳ bí mật ấy. Phong trào Hà Đông chúng tôi khi đó không phải như trong tiểu thuyết Mười Năm. Tôi phản đối người viết đã xuyên tạc sự thật lịch sử (203-204)
Sau vụ sấm sét này, Tô Hoài bỏ đi Lai châu để quên lãng.

2. Cải cách ruộng đất

Tô Hoài không dám nói nhiều, ông chỉ phớt qua các vấn đề như cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, và cải tạo tư sản. Ông không cho đó là những hạnh phúc mà là những vết thương cho đất nước mà cộng sản dã man đã gây nên để cướp tài sản và khủng bố nhân dân. Ông viết:
Đất nước như cánh đồng cày vỡ, chưa biết cấy hái ra thế nào. Vết thương cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức còn đỏ hỏn khắp chợ thì quê. Các thành phố đã bắt đầu cải tạo tư sản. Người ta hô trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng. Chẳng biết căn do của người ta ra sao, nghe khẩu hiệu đã sướng tai.. . . Bên ta đang cải tạo tư sản. Cách làm dịu dàng và lặng lẽ nhưng cũng xanh mặt!(57)

3. Chỉnh huấn

Tô Hoài đã kể lại việc chỉnh huấn trong chế độ cộng sản. Đây là chính sách tẩy não của cộng sản, phát xuất từ Trung quốc, là một hình thức tra tấn, hành hạ tình thần con người khiến cho nhiều người uất hận mà tự tử. Họ bắt văn nghệ sĩ, cán bộ, bộ đội, sinh viên, học sinh học tập chính trị, tự phê phán lỗi lầm của mình và bới móc lỗi lầm của người khác. Những lỗi lầm nặng nề nhất là tội lãng mạn, hủ hóa, mất lập trường giai cấp, mất quan điểm chính trị.
Mùa đông 1951,ở rừng Chiêm Hóa, tôi đã trải kiểm điểm, hai tháng tôi dự lớp đầu tiên chỉnh huấn gọi là theo phương pháp Hoa Nam. Lớp ấy nòng cốt các ngành các giới và địa phương. Trần Dần, Tử Phác phụ trách chỉnh huấn ở Hoa Nam, mặc áo bông xanh Sĩ Lâm. Lớp bế mạc, một số vượt Trường Sơn vào làm chỉnh huấn và cải cách ruộng đất khu V. Đoàn vào sâu hơn, mới tới miền đông Nam Bộ thì hiệp định Genève 1954 được ký kết.
Nửa đêm trở dậy, giữa rừng đốt hàng trăm bó đuốc, lấp loáng băng khẩu hiệu vải đen chữ trắng. . . . Bộc lộ khuyết điểm. . . . Thước đo lòng trung thành. . .Trời rét cắt ruột. Rừng đêm tối như mực. Con người bẩn thỉu lỗi lầm đầy rẫy. . . Chưa. . . Chưa đủ thành khẩn, làm lại.. . . lại làm lại.. . Mỗi lần làm lại, càng ngày càng áy náy âu lo. Cái chờ đợi được tổ thông qua cứ xa vời vợi. Chỉ có bộc l ti hủ hóa thì dễ nhất, không có cũng đấm ngực bảo có. Ở báo Cứu Quốc lại có một cậu nuốt lưỡi dao cạo. Chết rồi còn bị khai trừ vì tội trốn đãu tranh. Nguyễn Tư Nghiêm tham gia một đợt ội như đơn vị ra trận. Hai ngày bắt rễ, một ngày xâu chuỗi. Đi viên giảm tô họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm loay hoay cả tuần không bắt được rễ, không xâu chuỗi được bần cố nông nào. Nguyễn Tư Nghiêm hoảng quá phát dại, đi không nhớ đường về xóm. Suốt ngày vơ vẩn ngoài đồng, bắt cào cào,châu chấu ăn (114).

4. Nhân Văn, Giai Phẩm

Tô Hoài tỏ thái độ thù ghét nhóm này( Có lẽ là ông thù ghét họ thật sự chứ không phải vì chiến lược, chiến thuật. Nếu không ghét họ mà sợ nhà nước, ông không cần phải nói đến họ!). Trong bản tự kiểm cũng như trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài tỏ vẻ thù ghét Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi và Minh Đức (59). Ông cho rằng nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm hoạt động gây sự và có ý đồ chính trị . . .Báo Nhân Văn hô hào dân chủ và in một số sáng tác phong cách mới. . . (67). Dẫu sao, ông cũng đã viết lên được tấm thảm kịch của thời lúc bấy giờ, nhất là giai đoạn cuối của Nhân Văn, Giai Phẩm.
Báo Nhân Văn ra đến số 6 bị tịch thu tại nhà in. Nhà xuất bản Minh Đức đóng cửa. Hồi ấy số báo in còn ít, chỉ tính số nghìn. Nhưng một số báo bị cấm thì ầm ĩ ngay.Bây giờ cuối năm 1956 . .Các đoàn thể tổ chức kiểm điểm và kỷ luật những cán bộ tham gia viết và hoạt động cho báo Nhân Văn và tập san Giai Phẩm của nhà xuất bản Minh Đức.
Ở hội Nhạc, Đặng Đình Hưng bị khai trừ đảng. Văn Cao kỷ luật cảnh cáo, chỉ được ở hội Nhạc không ở hội Văn và hội Vẽ. Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm và Dương Bích Liên tuy chỉ làm cái bìa sách cho nhà xuất bản nọ nhưng chắc là những không khí sát phạt ở các buổi họp khiến các anh ngại,đã xin ra đảng. Trên có nghị quyết không khai trừ mà đồng ý cho được thôi. Có lẽ đến bây giờ Nguyễn Tư Nghiêm vẫn giữ cuốn sổ tay ghi đến nghìn thứ bao nhiêu những cuộc họp mà Nguyễn Tư Nghiêm không phải đi. Anh có vẻ hứng thú về những con số tỉ mẩn ấy. Khác Nguyễn Sáng. Nguyễn Sáng vẽ ký họa trên báo Nhân Văn một đầu người ở cổ có vết khía như cái lá. Người ta bảo chân dung Trần Dần và cái sẹo còn lại khi anh định tự vẫn. Nguyễn Sáng không đuợc bình huân chương kháng chiến. . . .Hoàng Cầm bị ra khỏi ban chấp hành, phải thôi việc nhà xuất bản, chuyển công tác về Sở văn hóa Hà nội. Phùng Quán nhờ có chú Phùng Thi, Chánh văn phòng bộ văn hóa đưa lên làm ở vụ văn hóa quần chúng. Nhưng ai cũng bức bối không yên. Ông thì mở quán rượu, thằng thì câu cá Hồ Tây, hiu hắt, dông dài cho tới năm về hưu.. . . Phan Khôi . . .ngồi yên. Mấy năm sau lâm bệnh mất. Đám ma bác Phan Khôi đi sau xe tang, chỉ có bác gái và các con với một mình chị Hằng Phương, cháu gọi bằng cậu. Trần Dần và Lê Đạt ra khỏi cơ quan, chuyên dịch sách cho nhà Văn Học. Nhà xuất bản Sự Thật thuê Trần Đức Thảo dịch sách lý luận kinh điển. Ban chấp hành hội Nhà văn quyết định truất ba năm hội tịch, đăng trên báo Văn Học, cơ quan của Hội. Nhưng đằng đẵng ba mươi năm không hội văn học nghệ thuật nào lôi ra xem xét lại. Sợ sệt, âm thầm, phấp phỏng, không phải chỉ ở tâm trạng mấy ông Nhân Văn cả nước mà lan tràn đến những Nhân Văn phố , Nhân Văn xóm chẳng bị kỷ luật gì, nhiều người không phải vì bài văn câu thơ, mà bởi vì lời nói bông lông, bốc trời chẳng hạn, bị quy chụp liền. Hữu Loan không ở nhóm nào cũng bỏ làm báo,về Thanh Hóa. Nghe nói là đi xe thồ và vào núi đập đá bán. Có những cây bút trẻ như Vũ Bão, như Lê Bầu, mấy truyện in sách, đăng Văn Nghệ Quân Đi tươi mát lắm cũng chột luôn (79-81).
Tô Hoài viết sai về Hữu Loan. Hữu Loan có viết trong Nhân Văn và Giai Phẩm . Tô Hoài cũng nhắc lại chuyện ông làm ở Hội Nhà Văn:
Năm 1957, đại hội thành lập các hội chuyên ngành. Hội Nhà Văn Việt Nam ra đời. Liền ngày 1958, hội tổ chức các cơ quan: báo, nhà xuất bản ( có Trần Dần, Hoàng Cầm Nhân Văn vẫn làm việc ở đãy, ban nghiên cứu sáng tác, ban liên lạc văn học nước ngoài ( có Lê Đạt), câu lạc bộ (để Nguyễn Tuân nói về Đôtôépxky và cười cợt mỉa mai, cứ đà này thành câu lạc bộ Pêtôphi lúc nào không biết!), quỹ sáng tác ( chẳng khác gì đánh trống gọi người đến lĩnh tiền, chia tiền). . . Trên cho là cơ quan Hội Nhà Văn đã bị xỏ mũi. Ở nhà xuất bản Văn Nghệ rồi chuyển thành nhà xuất bản Hội Nhà Văn, tôi cùng làm việc với Hoàng Cầm, Trần Dần. . . Nhiều người tố cáo: Họ làm cả, Tô Hoài chỉ phổng mũi lên ký duyệt. In Kim Tiền ( Vi Huyền Đắc), Truyện Ngắn Và Tiểu Luận (Thạch Lam), Nước Giếng Thơi ( Nguyễn Bính), Vang Bóng Một Thời( Nguyễn Tuân), tập thơ Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao.. . và đã quảng cáo in rất nhiều tác phẩm phức tạp khác. Những tác giả ấy, người thì có vấn đề, người thì đã di cư vào Nam và hầu hết viết trước cách mạng, tại sao đề cao những cái đã xếp xó nhiều đến thế? Tất nhiên là không bình thường, cái gì đây? (87)
Tô Hoài cũng nói đến báo Văn do Nguyên Hồng phụ trách.
Báo Văn mà Nguyên Hồng phụ trách đã in trong nhiều số những sáng tác còn khó chịu hơn nữa. Kịch ngắn gợi lại vết thương cải cách rung đất, những vở kịch của Hoàng Tích Linh ( Cơm Mới), Nguyễn Khắc Dực( Chuyến Tàu Xuôi), Chu Ngọc ( Ngày Giỗ Đầu), Ca Khúc Buồn Bã và Những Phát Biểu Lệch Lạc Về Âm Nhạc Của Tử Phác của Nguyễn Văn Tý, Rồi thơ Phùng Quán ( Lời Mẹ Dặn), truyện ký Phan Khôi ( Ông Năm Chut) và truyện Đống Máy của một cây bút trẻ gửI đến. Truyện tả một nhà máy thiết bị nước ngoài rồi để chất đống ngoài trời đến hỏng nát. Người ta nghi là của một kỹ sư nào nói xấu công nghiệp ta và tình hữu nghị quốc tế. Chúng tôi lo lắng thực sự. . .Năm trước đã nghiên cứu cả tháng rồi, bây giờ báo Văn lại sa vào hữu khuynh tệ hại như thế. Báo Văn phải ngưng xuất bản. . . tuần báo mới của hội đổi tên mới là tuần báo Văn Học (87-89).
Sau khi dẹp xong Nhân Văn, Giai Phẩm, hội Nhà Văn chấn chỉnh nội bộ, tờ Văn thành Văn Học. Họ triệu tập một cuộc họp ở ấp Thái Hà để thảo luận và kiểm điểm. Tô Hoài viết về cuc họp dài ngày này:
Cái tổ 18 có Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân và một số nhà văn vững vàng làm nòng cốt. Trêu ngươi ai , Kim Lân lại mới in truyện ngắn Con Chó Xãu Xí. Con chó cũng như con hổ hiền lành, không ai tin con chó chỉ là con chó, lại xấu xí nữa. Nguyễn Huy Tưởng đã về làm nhà xuất bản Kim Đồng. Đương bi tơi bời kiểm tra nhau mấy cái bản thảo, trong có truyện đồng thoại ao cá ao rùa chi chi của Sao Mai, lại con cá, con rùa, con ba ba, lắm con quá. Cũng chẳng ai bảo người vào tổ 18 ấy là một bọn hay khác cánh, nhưng cứ ang áng biết thế (89).

5. Nỗi uất hận của các văn nghệ sĩ

Một trong những điểm đặc sắc của Cát Bụi Chân Ai là Tô Hoài đã cho ta biết tâm trạng và nỗi nhục nhằn của các văn nghệ sĩ dưới chế đ cng sản. Nỗi đau khổ lớn lao của họ là bị cộng sản kìm kẹp trong sáng tác. Cuộc sát phạt Nhân Văn, Giai Phẩm và các cuộc chỉnh huấn, phê bình, kiểm thảo là những trận đòn mà các văn nghệ sĩ phải gánh chịu. Có lẽ trong các văn nghệ sĩ, Nguyên Hồng là người bị đao búa nặng nhất về tội để cho Phan Khôi, Lê Đạt viết chống đảng trên báo Văn, và chính ông viết truyện ngắn về con hổ Truyện Cái Xóm Tha Hương ở Cửa Rừng Suối Cát Và Con Hùm Bồ Côi mà bị kiểm thảo:
Một vòng người họp tổ, như các cụ trong làng ngày trước ngồi xếp bằng quanh chiếu tổ tôm. Những lời dao búa truy dồn. Thế là Nguyên Hồng khùng lên, khóc òa lên (88).
Sau vụ kiểm thảo, Nguyên Hồng tức bực đã lui về Nhã Nam:
Nguyên Hồng nói:
Ông đ. chơi với chúng mày nữa. Ông về Nhã Nam (134).
Sau đó ông xin về hưu non. Nguyên Hồng cười mà nói:
Ông đố đứa nào bắt chước được ông đãy! (136)
Tô Hoài kể lại nỗi đau khổ của Ngô Tất Tố:
Kim Lân kể dạo ở trên Chợ Chu, trong một cuc kiểm điểm, Ngô Tất Tố bị một anh xưa nay bác Ngô vẫn coi không ra gì, bây giờ phải nghe anh ấy sát phạt lên lớp. Ngô Tất Tố quệt nước mũi vào gốc cây, sụt sùì nói với Kim Lân: Làm người khó lắm bác ạ(112).
Tô Hoài đã nói đến những vụ hành hạ trong chỉnh huấn khiến cho người ta uất hận nuốt lưỡi dao cạo hay thắt cổ mà chết (113- 114).
Dẫu sao, trong đám văn nghệ sĩ cũng có người kiên cường bất khuất. Cứng cỏi nhất là Phan Khôi:
Chúng tôi ở Lao Cai về, cái lớp 21 ngày vừa hết, còn buổi sau cùng. Tiếng vỗ tay bế mạc rầm rầm ngập cái sân thượng. Cái ông lão Phan Khôi ngang như cua ưa chơi tri, chống ba toong bước ra về trước, còn quay lại nói mt câu thế nào đãy, dường như là người đi chợ Hôm sung sướng mua được quả chanh cốm, hỏi ra mới biết chanh xuất khẩu bị ế. ở người trồng chanh phải đưc ăn chanh ngon nhất chớ! Chẳng biết nói bóng gió hay nói vỗ mặt. Nhưng mà cách nghênh ngáo táo tợn của ông thì không lạ! (79)
Tú Mỡ là người có nhân có nghĩa. Ông chỉ trích đường lối chính trị của Nguyễn Tường Tam nhưng ông lại nói ông không quên ân nghĩa của Nhất Linh đã khuyến khích Tú Mỡ trên đường văn nghệ (114).
Tuy cẩn thận ngôn ngữ, một đôi khi Tô Hoài cũng tỏ thái đ chống đối đảng soi mói, bẻ hành bẻ tỏi và hành hạ văn nghệ sĩ. Ông đem những câu chuyện về Nguyễn Tuân để minh chứng những hành đng khắc nghiệt của các công an văn hóa, mà chính những tay lý luận Mác Lê này cũng đã tự hào xưng mình là gác cổng, giữ nhà cho đảng:
Những người có trách nhiệm đã bỏ công soi mói, bẻ hành bẻ tỏi chỉ là gò ý và trịch thượng. Thời chống Mỹ, Nguyễn Tuân viết một loạt ký về Hà Nội, Ta Đánh Mỹ Giỏi thế mà vẫn có những bút chì đỏ gạch từng quãng lưu ý cấp trên. Tôi gặp khó khăn bởi những chuyện ấy vì hội Văn Nghệ Hà nội đã in lần thứ nhất tập bút ký này. Công việc gọi là theo dõi ấy thật sự là đố kị, bề trên . . . (74)
Tô Hoài đã trình bày nhiều bức thư do Nguyễn Tuân viết cho ông. Một bức thư Nguyễn Tuân kể việc đi Hoàng Liên Sơn có đoạn tái bút:
Khi lên cao, mình có bị ong đốt, mặc dầu chẳng có trêu phá gì nó.
Tô Hoài bình luận câu trên như sau:
Cái câu tái bút ong đốt vu vơ chỉ gửi cho tôi này, chắc là nếu đăng báo, in sách cũng lại điêu đứng đãy. Ôi là trời, cái tính người ta thế, chứ xỏ xiên gì đâu(75).
Và ông viết thẳng về một thời cuồng điên của vấn đề này:
Có một thời những người theo dõi báo chí, xuất bản và phát hành sách báo được phong làm lính gác. Lính gác thì phải có việc, chẳng lẽ ăn lương chỉ đứng không. Nhưng thực ra người ta chỉ đọc a dua rồi đánh đòn hội chợ. Cấp trên hô người ấy, bài ấy có vấn đề. Tự nhiên người ta cảm thấy người ấy, bài ấy có vấn đề thật và người ta dò tìm từng câu từng chữ. Thế nào chẳng ra vấn đề! Bỗng khó chịu cả cách diễn đạt khác nhau của mỗi ngòi bút, thế là làm sao? Không biết vì tổ chức đặt ra công tác theo dõi làm cho thằng theo dõi thấy được làm thầy thằng bị ( được) theo dõi. Hay là tại vì thuở nhỏ còn đi học, nhà trường chưa bao giờ giảng cho học sinh hiểu biết bài văn có ý nghĩa, trước nhất bài văn phải hay đã. Viết văn thất bại nhưng vẫn làm nghề theo dõi được, đồng nghĩa tương tự thế. Cái nhìn sự sáng tạo cứ xuống dần theo thời tiết. Nguyễn Tuân cáu kỉnh nhẹ nhàng: Có khi mà bảo những những thằng theo dõi chúng nó viết đi, để ông với mày đi chơi, thế có phải biên chế bớt được người không!(76)
Căm thù bọn bồi bút, Nguyễn Tuân đã nói: bao giờ chết thì nhớ chôn theo tôi một thằng phê bình ( 186).
Bởi vì hành đng cuồng điên của những tay giữ nhà, gác cổng đảng mà nhà văn phải uốn mình, bẻ cong ngòi bút. Một số nhà văn phải dùng thủ thuật tránh né.Tô Hoài kể rằng trong chuyến đi Bắc Mê, Nguyễn Tuân đã sáng tác hai câu thơ:

Non xanh gõ hòn dá xanh,
Nửa năm nghe tiếng mõ canh Cổng Giời.

Trở về Tô Hoài viết kịch đăng Văn Nghệ, đặt hai câu ấy lên đầu bài mà ghi rằng ca dao cũ vùng Bắc Mê! Chính Nguyễn Tuân cũng dặn Tô Hoài có dùng thì phải đề thế(100-101).

6. Tố cáo cộng sản

Ở một vài nơi, Tô Hoài đã vạch ra những thủ đoạn gian trá của cộng sản. Dưới chế độ cộng sản, bất cứ món lợi nào, đảng đều thâu tóm. Đảng lấy tiền quốc cứu lụt, tiền UNESCO về tu bổ đền dài cung diện, tiền quốc tế viện trợ bỏ túi. Tô Hoài đã nói rõ việc đảng lấy 200 chiếc xe đạp mà nước Đức trao tặng các nhà văn Việt Nam:
Hội Nhà Văn Đức tặng hội Nhà Văn Việt Nam 200 trăm cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng vườn hoa cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô tuyến truyền hình Việt và của Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm hữu nghị quốc tế. Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chảng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe vào cái kho bộ Thương Nghiệp. Nguyễn Tuân hỏi mắng Nguyên Hồng: Đóng trò xong dắt mẹ nó cái xe đạp ấy đi, đứa nào làm gì được! Nguyên Hồng cười vuốt râu, đánh trống lãng: Tớ lên phim còn nhiều phút hơn cái thằng phiếc me vô danh trong phim Cánh Đồng Ma đãy (136).
Ông cũng tố cáo đảng trấn lột một nghìn bảng Anh của ông do bà thủ tướng J. Gandhi tặng ông khi ông qua thăm Ấn Độ:
Túi rỗng, tôi đi qua các nhà hàng không chào lại, như còn đương mãi nghĩ. Chả là tôi vừa nhận giải thưởng hội Nhà Văn Á Phi 1969, bà thủ tướng J. Gandhi trao tặng kèm mt ngàn bảng Anh. Nhưng trong va li tôi chỉ có tờ chứng nhận và chiếc huy hiệu bằng đồng. Mấy chai votca các bạn nhà văn cho, ai đến mừng thì nâng cốc vui sướng.là hôm sứ quán nhận tiền tôi đưa, có làm một tiệc nem rán mời khách (312).
Tô Hoài cũng nêu lên vụ tham nhũng ở một huyện. Một bí thư huyện làm sổ giả để lấy tiền nhà nước tiêu xài.
Lần lượt các chủ tịch, bí thư xã mua xe, xây nhà.Các ngành các giới lên huyện họp được được cấp tiền ăn như ăn cỗ gấp mười tiêu chuẩn.
Chánh văn phòng giữ sổ sách, chì tiêu văng mạng, chủ tịch, bí thư huyện, cả ban thường vụ nữa, không hề biết mặt đồng lương. Kho bạc nhà nước như chĩnh gạo nhà mình. Ai cũng ngập miệng nên cán bộ cả huyện và tất cả các xã ngậm tăm. Đến khi phải bắt đi tù vãn cả huyện ủy, ủy ban, hàng huyện mới ngã ngửa ra. Trong ban chấp hành chỉ có một đảng viên nữ không dính bởi sợ (289).
Tô Hoài có khi tỏ ra ngây thơ trong thực tế và trong chính trị. Ông không hiểu mánh khóe tuyên truyền bịp bợm của cộng sản. Cho đến năm 2000, Việt Nam vẫn chưa chế tạo được ô tô, chỉ sửa được ô tô, hay tân trang ô tô cũ, thế mà năm 1955, báo đăng quân giới cng sản lắp ráp được xe ô tô, và họ cho vài chiếc xe mới chạy ngoài đường, ông tưởng thật hoan hô ầm ĩ :
Sau đít xe, cái biển kẻ ba số không rồi đến con số một đỏ chóe. Nhà máy quân đội ta đã sản xuất được cả xe ô tô! Những đồ đồng nát đem chữa chạy lại mà có thể vỗ tay lên được chủ nghĩa xã hội thì đến ngơ ngẩn cả người thực!(72)

Văn của Tô Hoài trong Cát Bụi Chân Ai rất điêu luyện và bóng bảy. Ông cũng có cái giọng ngang tàng của Nguyễn Tuân. Tuy nhiên đôi chỗ ông quá hạ mình, ông thường dùng chữ Trên một cách kính cẩn khi nói về một ai đó :
Trên có sáng kiến lấy giấy và tiền. . . (64)
Trên có nghị quyết không khai trừ . . . (80)
Trên cho là cơ quan Hội Nhà văn.. . .(87)
Nói chung, tác phẩm của Tô Hoài trước 1945 rất có giá trị. Sau 1945, các tác phẩm ông viết đều là văn tuyên truyền, chuyên đề cao những việc không thật và người không thật. Chỉ trừ một số hồi ký, bút ký là mang ít nhiều sự thật, trong đó có Cát Bụi Chân Ai là khá nhất.